TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 820/2025/DS-PT
Ngày: 02-12-2025
“Tranh chấp quyền
sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng;
Ông Nguyễn Phú Thọ;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 27 tháng 11 và ngày 02 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở 1 - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 558/2025/TLPT-DS, ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp dân sự quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (nay là Toà án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 525/2025/QĐ-PT, ngày 27 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 195/2025/QĐ-PT ngày 11/11/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1987;
Địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông T là bà Cao Kim T1, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp và bà Hồ Thảo U, sinh năm 1996, địa chỉ: Số nhà A, đường C, tổ C, khóm D, phường M, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Lương Chí H, sinh năm 1970 (có mặt);
- Ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1985 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Tấn C1, sinh năm 1986 (có mặt);
Cùng địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Tấn C1 là ông Nguyễn Tấn C, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Tấn C là ông Lương Thanh T2, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Trúc G, sinh năm 1974 (có mặt);
- Anh Lương Văn T3, sinh năm 1994 (vắng mặt);
- Anh Lương Khánh L, sinh năm 2000 (vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1993 (vắng mặt);
- Chị Đinh Thị Mỹ T5, sinh năm 1988 (vắng mặt);
- Lương Ngọc Kỳ D, sinh năm 2018 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật của Lương Ngọc K D là anh Lương Minh T6, sinh năm 1994 và chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1959 (có mặt);
- Ông Lương Văn T7, sinh năm 1958 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Lương Văn H2, sinh năm 1982 (vắng mặt);
- Bà Lương Thị Kim N, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông Lương Văn H2 và bà Lương Thị Kim N là bà Cao Kim T1, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đ. Địa chỉ: Khu phố T, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H3, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh V Đăng ký đất đai Khu vực XIII thuộc Văn phòng Đ (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Lương Văn T, sinh năm 1987.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lương Văn T và bà Cao Kim T1 thống nhất trình bày:
Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc của ông Lương Văn S (chết năm 1986) để lại cho ông Lương Văn T7 quản lý sử dụng đất. Ông T7 đi đăng ký kê khai và được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) năm 1997. Năm 2020, ông T7 tặng cho Lương Văn T QSDĐ thửa 1509, tờ bản đồ số 5, diện tích 726m², tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, ngày 13/7/2020 ông T được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSDĐ.
Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2016, gia đình ông T gồm có ông T, ông H2 và bà H1 đi làm ăn sinh sống ở Vũng Tàu, thi thoảng mới về thăm nhà, không thường xuyên có mặt ở địa phương. Riêng ông T7 có gia đình riêng sinh sống ở xã B, huyện T nên nhà cửa để trống không ai trông coi. Năm 2016, ông T, ông H2 và bà H1 trở về địa phương cất lại nhà cửa để sinh sống thì thấy ông Lương Chí H cất nhà, ông T có hỏi ông T7 thì ông T7 nói rằng chỉ cho ông H ở tạm trên đất chiều ngang 5,5m chứ không cho đất. Ông H lúc đầu chỉ cất nhà ngang 5,5m dài 08m, nhưng sau đó ông H tự ý cơi nới, chiếm dụng đất của ông T. Trong thời gian ông H ở trên đất, ông H đã nhiều lần đánh đập mẹ con ông T, cất nhà xâm phạm đến mồ mã ông bà. Khi ông T đứng tên giấy đất thì ông T đã nhiều lần yêu cầu ông H tháo dỡ di dời nhà trả đất cho ông T nhưng ông H không đồng ý. Hiện tại phần đất ông H sử dụng có diện tích đo đạc thực tế là 258,5m² thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C do ông T đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ.
Đối với căn nhà ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 trên thửa đất của ông T đứng tên QSDĐ là do trước đây bà Lương Thị D1 là chị của ông S xin cất nhà ở nhờ trên đất. Ông S đồng ý cho bà D1 và bà T11 ở nhờ trên đất của ông S có vị trí thuộc khu vực mép bờ sông. Một thời gian sau nhà nước làm đường lộ không cho ở mé sông bà D1 và bà T11 dời nhà lên cất cạnh nhà ông T7. Bà D1 và bà T11 đã chết, căn nhà do ông C và ông C1 sử dụng có diện tích đo đạc thực tế là 29,6m² thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C do ông T đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ. Ông T đã nhiều lần yêu cầu ông C, ông C1 di dời nhà cửa trả lại đất cho ông T nhưng ông C, ông C1 không đồng ý. Hiện tại phần đất ông C và ông C1 sử dụng có diện tích đo đạc thực tế là 29,6m², ngoài ra ông Công C1 không sử dụng phần đất nào khác. Hiện tại ông C, ông C1 đã có gia đình, chỗ ở và công việc làm ăn ở nơi khác, ông C và ông C1 không sử dụng căn nhà để ở mà đóng cửa để trống. Ngoài ra trên thửa đất 1509 có 03 phần mộ của bà D1, bà T11 và em của ông C, ông C1.
Tại phiên tòa, ông T rút nội dung yêu cầu ông H trả cho ông T số tiền dự án bồi thường là 36.200.000 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm ngàn đồng), rút nội dung yêu cầu ông C và ông C1 di dời các phần mộ của bà D1, bà T11 và em của ông C, ông C1. Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh giải quyết:
- Buộc ông Lương Chí H, bà Trần Thị Trúc G, Lương Minh T6, Lương Khánh L, Nguyễn Thị T4, Đinh Thị Mỹ T5, Lương Ngọc Kỳ D di dời nhà ở, tài sản có trên đất để trả lại cho ông T phần đất diện tích 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ.
- Buộc ông Nguyễn Tấn C và Nguyễn Tấn C1 di dời nhà ở, tài sản có trên đất để trả lại cho ông T phần đất diện tích 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ. Ông T tự nguyện hỗ trợ cho ông C và ông C1 chi phí di dời tài sản trên đất với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
- Đối với yêu cầu phản tố của ông Lương Chí H yêu cầu công nhận QSDĐ diện tích 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C cho ông H. Yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông T để cấp cho ông H QSDĐ có diện tích 258,5m² thì ông T không đồng ý.
- Đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Tấn C và Nguyễn Tấn C1 yêu cầu công nhận QSDĐ diện tích 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho ông C và ông C1. Yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông T để cấp cho ông C và ông C1 QSDĐ diện tích 29,6m² thì ông T không đồng ý.
Cây trồng có trên đất các bên cũng không tranh chấp; trường hợp phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ai thì người đó sẽ tự di dời và không yêu cầu bồi thường.
Ông T đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Tòa án và đồng ý với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ. Hiện trạng diện tích đất tranh chấp không có gì thay đổi so với thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ. Giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1509 hiện nay ông T đang giữ bản chính, không có cầm cố thế chấp hay thực hiện bất kỳ giao dịch dân sự nào khác. Ngoài ra, nguyên đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và không trình bày yêu cầu gì thêm.
2. Bị đơn là ông Lương Chí H và ông H là đại diện cho anh T6, anh L trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông H không đồng ý. Phần đất ông H đang sử dụng có diện tích 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C có nguồn gốc là của ông Lương Văn S. Ông S là cha ruột của ông Lương Văn T7 và ông Lương Chí H. Ông S chung sống với bà Bùi Thị N1 (chết năm 1964) có 05 người con chung gồm: bà Lương Thị T8, bà Lương Thị R, bà Lương Thị R1, bà Nguyễn Thị M, ông Lương Văn T7. Sau khi bà N1 chết thì ông S chung sống với bà Nguyễn Thị C2, ông S và bà C2 có 02 người con chung là ông Lương Chí H và bà Lương Ngọc T9. Ông T7 với ông H có mối quan hệ là anh em cùng cha khác mẹ, ông T7 là con của ông S với N1, ông H là con của ông S với bà C2. Do ông S có 02 dòng con nên ông S cất 02 căn nhà, một căn nhà ông S để lại cho ông T7 cùng bà H1 ở. Một căn nhà ông S cất cho bà C2 ở, năm 1987 ông S chết, ông H quản lý sử dụng nhà cửa đất đai cùng với bà C2, sau này ông H lấy vợ sinh con vẫn ở trên phần đất diện tích 258,5m² cho đến ngày nay. Khi ông S còn sống đã định đoạt cho ông T7 và ông H nhà cửa đất đai để quản lý sử dụng, các chị em gái đều biết, thống nhất và
không có tranh chấp gì. Ông H không biết ông T7 đi đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ khi nào, mãi cho đến năm 2010 khi nhà nước có dự án làm đường thì ông H mới được biết ông T7 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, do ông T7 đã đem giấy chứng nhận QSDĐ đi cầm cố để vay tiền nên ông H cũng không nhìn thấy giấy đất. Khi ông H nhận được tiền nhà nước bồi thường làm lộ thì ông H có đưa cho ông T7 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để chuộc lại Giấy chứng nhận QSDĐ. Ông H có yêu cầu ông T7 tách QSDĐ cho ông H phần đất ông H quản lý sử dụng và được ông T7 đồng ý, tuy nhiên ông T7 chỉ hứa hẹn nhiều lần mà chưa thực hiện. Mặc dù ông T7 đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ nhưng ông H cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc cấp giấy cho ông T7 mà thống nhất thỏa thuận với ông T7 để tách QSDĐ cho ông H phần đất ông H quản lý sử dụng.
Ông T7 sau khi có vợ con thì được ông S cho căn nhà ở, sinh hoạt riêng. Ông T7 và bà H1 sống trên đất một thời gian thì ông T7 và bà H1 không còn chung sống. Ông T7 có gia đình riêng ở xã B, huyện T, thi thoảng mới về thăm nhà, riêng bà H1, ông H2, ông T không ở trên đất mà đi làm ăn ở Vũng Tàu khoảng thời gian hơn 10 năm. Đến năm 2016 bà H1, ông H2, ông T mới trở về địa phương, cất lại nhà cửa sinh sống. Trong quá trình ông T7, bà H1, ông T, ông H2 không ở trên đất thì ông H quản lý đất đai, chăm sóc mồ mả ông bà và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, đóng góp khi địa phương yêu cầu đối với người sử dụng đất.
Mâu thuẩn giữa ông H với gia đình ông T xuất phát từ việc đôi bên không thống nhất khi làm hàng rào và phần sân ông H lát gạch thì ông T đem cây kiểng sang để. Năm 2020, giữa ông H và ông T7 tranh chấp ranh đất nên địa phương có tiến hành hòa giải và ông T7 thống nhất thực hiện tách thửa cho ông H phần đất ông H quản lý sử dụng, tuy nhiên ngay sau đó ông T7 tặng cho ông T. Ông H không biết ông T7 tặng QSDĐ cho ông T và T được cấp giấy khi nào cho đến khi ông T đứng đơn tranh chấp vào cuối năm 2020.
Ông H sinh sống trên đất với cha mẹ từ lúc sinh ra và hiện nay ông H cùng với thành viên hộ ông H sinh sống trên đất có nguồn gốc của ông S để lại cho ông. Ông H ở trên đất, chăm sóc mồ mả và thờ cúng ông S. Vào năm 2001, ông H được nhà nước hỗ trợ chi phí sửa chữa nhà chính sách (bà Nguyễn Thị C2 là vợ liệt sỉ Trần Văn R2) với số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), ông H và bà G cùng xây cất lại nhà kiên cố như hiện trạng Tòa án xem xét thẩm định. Trong quá trình sử đụng đất ông H thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất như đóng thuế đất ở, đóng góp tiền rãi đá mở rộng lộ nông thôn. Ông H không ở nhờ trên đất của ông T7 như nguyên đơn trình bày, do đó ông H không đồng ý đối với yêu cầu của ông T. Phần đất phía sau nhà ông H đang ở có mộ của ông S và mộ ông nội ông H, từ trước cho đến nay đều do ông H chăm sóc mộ phần, không có hành vi xâm phạm mồ mả ông bà như ông T trình bày. Ông H cũng thống nhất phần đất này để dùng vào việc chôn cất nên từ trước đến nay ông H không có trồng cây lớn, hiện chỉ có 03 cây chuối và 01 cây hạnh do ông H trồng.
Ông H yêu cầu công nhận phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C là của ông H. Ông H đề nghị thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông T để cấp cho ông H phần đất diện tích 258,5m².
- Đối với số tiền nhà nước bồi thường múc kênh Nguyễn Văn T10 để làm đường lộ ông H đã nhận số tiền bồi thường là 25 hay 26 triệu đồng vào khoảng năm 2010 hay năm 2011 thì ông H không nhớ chính xác. Sau khi nhận tiền ông H đưa cho ông T7 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để chuộc lại Giấy chứng nhận QSDĐ mà ông T7 đem đi cầm trước đó. Đưa cho bà R1 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để làm mộ cho mẹ ông T7; đưa cho bà T8, bà R, bà M, bà T9 mỗi người 1.000.000 đồng (một triệu đồng), cho ông Lưu Văn C3 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng), số tiền còn lại ông H dùng để là mộ ông Lương Văn S. Ông T rút yêu cầu thì ông H thống nhất, ông H không có yêu cầu gì đối với nội dung này.
Ông H đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Tòa án và đồng ý với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ. Hiện trạng diện tích đất tranh chấp không có gì thay đổi so với thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ. Ngoài ra ông H không có yêu cầu hay trình bày gì khác.
3. Bị đơn là ông Nguyễn Tấn C và và ông C đại diện ông Nguyễn Tấn C1 trình bày:
Ông C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông C và ông C đại diện ông C1 trình bày: Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông C và ông C1 không đồng ý. Căn nhà mà ông C và ông C1 hiện đang quản lý sử dụng có chiều ngang khoảng 04m x chiều dài 07m, trên diện tích đo đạc thực tế là 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc là của bà Lê Thị T11 là mẹ của ông C mua đất nền nhà từ ông Lương Văn T7 vào khoảng năm 1992. Năm 2013, ông C và ông C1 đã cất lại nhà có vị trí ngay phần đất bà T11 mua của ông T7 như hiện trạng Tòa án xem xét thẩm định. Đến khoảng năm 2016, ông T7 có yêu cầu ông C đưa cho ông T7 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để ông T7 đi chuộc giấy chứng nhận QSDĐ về để đi thực hiện thủ tục tách thửa cho ông C ông C1 phần diện tích đất ông Công C1 đang ở. Ông T7 đã nhận tiền từ ông C nhưng ông T7 chỉ hứa hẹn mà chưa thực hiện. Ông C và ông C1 yêu cầu :
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 đối với diện tích đo đạc thực tế là 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ông C đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản của Tòa án và đồng ý với sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ. Hiện trạng diện tích đất tranh chấp không có gì thay đổi so với thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ. Ngoài ra ông C không có yêu cầu hay trình bày gì khác.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Trúc G trình bày: thống nhất với lời trình bày của ông H, không có bổ sung gì thêm. Ngoài ra, bà G không có yêu cầu hay trình bày gì thêm.
- Chị Nguyễn Thị T4, chị Đinh Thị Mỹ T5 không có nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết, vắng mặt không lý do, không có văn bản ý kiến trình bày gửi Tòa án.
- Ông T đại diện ông T7, bà H1 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông T, không có bổ sung gì thêm. Ngoài ra, ông T7, bà H1 không có yêu cầu hay trình bày gì thêm.
- Bà T1 đại diện ông Lương Văn H2, bà Lương Thị Kim N trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông T, không có bổ sung gì thêm. Ngoài ra, ông H2, bà N không có yêu cầu hay trình bày gì thêm.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Các đương sự không có giao nộp bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác.
Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Căn cước công dân tên Lương Văn T (bản photo); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1509 (bản photo); Biên bản hòa giải ngày 15/12/2021, 31/12/2021, ngày 06/01/2022, 30/8/2022 (bản chính); Công văn số 11604/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 22/8/2022 (Bản chính); Trích lục bản đồ địa chính thửa 1509, hồ sơ cấp giấy đối với thửa 1509 (bản sao); Giấy xác nhận số: 59/UBND – HC ngày 18/6/2024 của UBND xã P, Công văn số: 127/UBND-HC ngày 03/11/2020 của UBND xã P (bản photo), Biên bản về việc tự ý vào nọc ranh ngày 27/9/2020 (bản viết tay), Biên bản hòa giải ngày 23/6/2020 (bản chính); Căn cước công dân của ông H, bà G, ông C, ông C1 (bản photo); Biên lai thu thuế nhà đất số B và số 0049254 (bản photo), Đơn xin xác nhận ngày 10/6/2024 của ông H; Công văn số: 2931/STNMT-VPĐKĐ Đ ngày 13/7/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.
Tòa án thu thập các tài liệu sau: Sơ đồ đo đạc đất tranh chấp và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/4/2023 (bản chính); Biên bản định giá tài sản ngày 04/5/2023; Công văn 12226/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 11/8/2023 (bản chính) + hồ sơ cấp giấy đối với thửa đất 1509 (bản sao).
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lương Chí H.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ của ông T để công nhận cho ông C ông C1 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023, của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C.
Buộc ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 có nghĩa vụ di dời toàn bộ tài sản (vật kiến trúc, công trình, cây trồng) có trên đất để trả lại cho ông T QSDĐ diện tích 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T về việc buộc ông H, bà G, anh T6, anh L, chị T4, chị T5, D di dời tài sản trả lại cho ông T QSDĐ diện tích 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023, của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C.
Ông Lương Chí H được quyền sử dụng đất diện tích 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023, của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lương Văn T đồng ý hỗ trợ cho ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 chi phí di dời tài sản trên đất với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ)
- Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.
Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C để cấp lại cho các đương sự theo Bản án đã tuyên.
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với ông Lương Chí H trả lại cho ông T số tiền dự án bồi thường là 36.200.000 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm ngàn đồng).
- Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 về việc di dời các phần mộ của bà D1, bà T11 và em ông C, ông C1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và tuyên về quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ông Lương Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T. Đồng thời bác toàn bộ yêu cầu của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện nguyên đơn thay đổi yêu cầu như sau: Nguyên đơn đồng ý cho bị đơn ở trên diện tích đất theo biên bản hoà giải ngày 23/6/2020 của Hội đồng
hòa giải xã P.
- Bị đơn đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm; không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của của ông Lương Văn T. Giữ y bản án sơ thẩm số: 46/2025/DS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (Khu V - Đồng Tháp).
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc yêu cầu di dời nhà và tài sản để trả lại đất nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất” là phù hợp với quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Sau khi xét xử sơ thẩm, phía nguyên đơn là ông Lương Văn T không đồng ý với quyết định bản án sơ thẩm nên có kháng cáo, Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Lương Văn T yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-ST ngày 26/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh, theo hướng chấp nhận yêu cầu của ông T.
Xét yêu cầu của nguyên đơn Lương Văn T.
Về nguồn gốc đất thửa 1509 (bản đồ lưới) là của ông Lươưg Văn S1 là cha của ông Lương Chí H và ông Lương Văn T7. Ngày 13/01/1997, hộ ông Lương Văn T7 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp QSDĐ lần đầu thửa 2122, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.450m² (theo hệ thống bản đồ lưới 299) mục đích sử dụng đất thổ, cấp theo hình thức nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; ngày 02/7/2018 hộ ông T7 thực hiện cấp đổi giấy (cấp đổi từ hệ thống bản đồ 299 sang hệ thống bản đồ lưới tọa độ). Việc cấp giấy lần đầu và cấp đổi không đo đạc thực tế.
Như vậy chứng cứ thể hiện vào năm 1997, ông T7 đăng ký kê khai sử dụng đất thì lúc này đã có nhà của H trên diện tích đất diện tích 258,5m² từ trước năm 1997 cho đến nay và quá trình ông H sử dụng đất cất nhà ông T7 cũng không tranh chấp.
Tại buổi hòa giải ngày 23/6/2020 của Hội đồng hòa giải xã P về việc tranh chấp ranh đất giữa ông Lương Văn T7 và ông Lương Chí H, ông T7 thống nhất cho ông H phần đất có chiều ngang 05 mét và ông H cũng thống nhất nhận 05 mét chiều ngang đo từ lộ đến hậu trừ ra phần đất mồ mã ông bà. Do lúc này giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông T7 đã thế chấp cho người khác nên ông H đồng ý đưa cho ông thân 5.000.000 đồng để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử đất sang tên cho ông H.
Ngày 24/6/2020, ông T7 ký hợp đồng tặng cho QSDĐ thửa 1509, tờ bản đồ số 5, diện tích 726m², tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho ông T. Ngày 13/7/2020, ông T được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSDĐ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đo đạc thực tế.
Xét thấy ông H và ông T7 có mối quan hệ là anh em cùng cha khác mẹ. Khi ông S1 còn sống, ông S1 cất 02 căn nhà trên đất hiện là thửa 1509: một căn nhà của ông S1 thì để lại cho ông T7 và bà H1 ở, một căn nhà ông S1 cất thì ông S1 bà C2 và các con bà C2 ở. Ông H ở trên đất từ lúc sinh ra và hiện nay ông H đang quản lý sử dụng phần đất có nguồn gốc của ông S1. Mặc dù không có tài liệu chứng cứ thể hiện việc tặng cho, ông S1 chết không để lại di chúc. Tuy nhiên các đương sự đều thừa nhận phần đất ông H hiện đang quản lý sử dụng đất từ trước khi ông T7 đi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997; năm 2001 UBND xã P hổ trợ ông H cất nhà chính sách thì ông T7 cũng biết nhưng không phát sinh tranh chấp. Do đó, việc ông T yêu cầu ông H, bà G, anh T6, anh L, chị T4, chị T5, D di dời tải sản trả lại đất là không có căn cứ để chấp nhận.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Tháp).
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện V1 trình bày và đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T. Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.
Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T nên ông T phải chịu tiền án phí phúc thẩm.
Các nội dung còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 9 Điều 26; Điều 147, Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 45 và Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Không chấp nhận yêu yêu cầu kháng cáo của ông Lương Văn T;
Giữ nguyên quyết định bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Tháp).
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T về việc buộc ông H, bà G, anh T6, anh L, chị T4, chị T5, D di dời tài sản trả lại cho ông T quyền sử dụng đất diện tích 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023, của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lương Chí H.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T để công nhận cho ông C ông C1 phần đất diện tích đo đạc thực tế là 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023, của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C.
Buộc ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 có nghĩa vụ di dời toàn bộ tài sản (vật kiến trúc, công trình, cây trồng) có trên đất để trả lại cho ông T quyền sử dụng đất diện tích 29,6m² được xác định trong phạm vi mốc M18-M19-M20-M21, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C do ông Lương Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Lương Chí H được quyền sử dụng đất diện tích 258,5m² được xác định trong phạm vi mốc M1-M2-M3-M4-M7-M8-M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, thuộc một phần của thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lương Văn T đồng ý hỗ trợ cho ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 chi phí di dời tài sản trên đất với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ đo đạc đất tranh chấp ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ)
Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng theo quy định của pháp luật.
Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với thửa 1509, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp E, xã P, huyện C để cấp lại cho các đương sự theo Bản án đã tuyên.
Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với ông Lương Chí H trả lại cho ông T số tiền dự án bồi thường là 36.200.000 đồng (Ba mươi sáu triệu hai trăm ngàn đồng).
Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 về việc di dời các phần mộ của bà D1, bà T11 và em ông C, ông C1.
* Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá là 4.294.000 đồng (bốn triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng) đã thực hiện thu và chi xong.
Ông T phải chịu 3.294.000 đồng (ba triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng). Ông C và ông C1 phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Do ông T đã nộp tạm ứng nên buộc ông C và ông C1 phải nộp trả số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho ông T.
* Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lương Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 2.180.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000198 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Đồng Tháp. Ông T được nhận lại 1.180.000 đồng.
- Ông Lương Chí H phải chịu 7.755.000 đồng (bảy triệu, bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 1.275.000 đồng ông H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004153 ngày 29/6/2023 và 800.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000842 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Đồng Tháp. Ông H còn phải nộp tiếp số tiền 5.680.000 đồng (năm triệu, sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
- Ông Nguyễn Tấn C và ông Nguyễn Tấn C1 phải chịu 648.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 800.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004225 ngày 17/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Đồng Tháp. Ông C và ông C1 được nhận lại 152.000 đồng (một trăm năm mươi hai nghìn đồng).
3. Về án phí phúc thẩm:
Ông Lương Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002361 ngày 25/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Đồng Tháp.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- - Phòng TTKT-THA TAND Tỉnh;
- - Phòng THSDS khu vực 9 – Đồng Tháp;
- - VKSND Tỉnh;
- - TAND khu vực 9 – Đồng Tháp;
- - Đương sự;
- - Lưu: VT, HSVA, Châu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Khắc Thịnh
Bản án số 820/2025/DS-PT ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 820/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp dân sự - quyền sử dụng đất
