Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 82/2024/HS-PT

Ngày 31 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.
  • Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Năm.
  • Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 98/2024/TLPT-HS ngày 11/6/2024 đối với bị cáo Trần Đại P do có kháng cáo của bị cáo Trần Đại P đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo: TRẦN ĐẠI PHÚ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn B, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình H con bà Võ Thị Thu N; vợ: Lê Thị T H1; có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/02/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí hình sự, dân sự, bồi thường thiệt hại và đã xóa án tích.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Đại P: Chị Lê Thị Thu H1, sinh năm 1990; nơi cư trú: thôn B, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đại P: Ông Nguyễn Xuân P1– Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 03/5/2023, chị Dương Thị H2 khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1-353.38 đi giao cà phê. Khi đến đoạn đường bê tông ở thôn B, xã N, thành phố Q H2nghe tiếng rồ ga xe mô tô đi từ trong hẻm ra nên chị H2dừng xe lại. Lúc này bị cáo Trần Đại P2 khiển xe mô tô biển kiểm soát 76B1-685.33 đi từ trong hẻm ra đường bê tông thấy chị H2đang ngồi trên xe thì Pdừng xe lại. Lúc đó, bị cáo P3 sử dụng rượu, bia, không làm chủ được hành vi, bị cáo tự nghĩ xe mô tô do chị H2điều khiển va chạm với xe của mình (thực tế hai xe không va chạm với nhau) nên P4 tay trái đánh vào 01 cái vào mặt chị H2làm chị H2cùng xe mô tô ngã xuống đường. Trong lúc ngã, đầu gối bên phải của chị H2ngã quy xuống mặt đường. Tiếp đó, bị cáo xuống xe dùng hai tay đánh liên tiếp nhiều cái vào mặt chị H3 nghe ồn ào, có người ở gần đến can ngăn nhưng bị cáo tiếp tục dùng chân đạp nhiều lần vào hông trái của chị H2Sau đó, bị cáo được người dân đưa về nhà, chị H2được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 359/KLTTCT-TTPY ngày 23/5/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Q: Xát da vùng mũi bên trái đã lành sẹo tốt khó nhận biết. Gãy xương mái mũi bên trái đã điều trị nội khoa tạm ổn, xếp 07%; 01 sẹo kích thước nhỏ vùng cằm phải, xếp 01%; gãy cung bên xương sườn V bên trái, xếp 02%; 01 sẹo kích thước nhỏ trước dưới gối phải, xếp 01%. Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tếquy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Thị H2tại thời điểm giám định là: 11% (mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Tại Công văn số 231/TTPY ngày 04/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Q việc phúc đáp Công văn số 297/YC-ĐTTH thể hiện: “Theo hồ sơ bệnh án số vào viện 19459 của Bệnh viện Đ(bản sao) do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q cấp ghi nhận kết quả chụp Xquang ngực thẳng ngày 03/5/2023: Gãy cung trước xương sườn số IV bên trái nhưng tại thời điểm bệnh nhân đến giám định (ngày 16/5/2023) chúng tôi tiến hành kiểm tra dấu vết thương tích trên thân thể Dương Thị H2và có chỉ định chụp Xquang ngực thẳng, chếch để kiểm tra kết quả: Gãy cung bên xương sườn V bên trái, không thấy hình ảnh gãy cung trước xương sườn IV bên trái như trong hồ sơ bệnh án ghi nhận. Vì vậy chúng tôi ghi nhận gãy cung bên xương sườn V bên trái và không ghi nhận gãy cung trước xương sườn IV bên trái vào mục kết quả chính trong bản kết luận giám định số 359/KLTTCT-TTPY ngày 23/5/2023".

Tại Công văn số 2001/BVĐK ngày 20/12/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Q việc cung cấp thông tin liên quan đến việc khám, chữa bệnh của bà Dương Thị H4 hiện: "Lúc 20 giờ 18 phút ngày 03/5/2023, bệnh nhân bị đa chấn thương nên khoa cấp cứu chỉ định chụp Xquang lồng ngực thẳng, không có chỉ định chụp lồng ngực chếch nên khó xác định vị trí gãy trên phim. Bác sĩ tua trực đọc kết quả Xlà: Theo dõi gãy cung trước xương sườn số 4 bên trái. Đến ngày 16/5/2023 bà Dương Thị H5 khám giám định và có chụp bổ sung phim lồng ngực chếch với kết quả: Gãy cung bên xương sườn V bên trái. Sau khi đối chiếu lại hình ảnh Xquang trên 02 phim chụp ở hai thời điểm, khoa Chẩn đoán hình ảnh thống nhất lại kết quả Xquang của bà Dương Thị H6 sau: Gãy cung bên xương sườn số 5 bên trái".

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 1074/LKGĐ ngày 14/8/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T với bị cáo Trần Đại P5 luận: Trước thời điểm gây án: a. Kết quả về y học: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại hưng cảm (F25.0); b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiến hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi; Tại thời điểm gây án: a. Kết quả về y học: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại hưng cảm (F25.0); b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, Thời điểm hiện tại: a. Kết quả về y học: Rối loạn phân liệt cảm xúc, loại hưng cảm F25.0); b. Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiến hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Tại Công ăn số 407/PYTT - PKTT ngày 25/8/2023 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền T việc phúc đáp công văn số 969/YC-CSĐT(ĐTTH) của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q hiện: “Kết luận thời điểm hiện tại (ngày 08/8/2023), đối tượng Trần Đại P6 chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi, có khả năng để tham gia các giai đoạn tố tụng hình sự, nhưng phải có người giám hộ theo quy định của pháp luật”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên xử:

Tuyên bố Trần Đại P phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt: Trần Đại P 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/4/2024, bị cáo Trần Đại P kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Đại P vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo Trần Đại P với mức án như trên là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Trần Đại P tại phiên tòa:

Về tội danh: Thống nhất bị cáo Trần Đại P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản án sơ thẩm xét xử là đúng pháp luật.

Về áp dụng hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhưng xử phạt mức án 02 (hai) năm tù là có phần nghiêm khắc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị bệnh tâm thần phải thường xuyên uống thuốc điều trị, có 03 con nhỏ, trong đó; có một con riêng của bị cáo cũng bị bệnh tâm thần nên rất cần sự chăm sóc, trông nom của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhằm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi của bị cáo: Bị cáo Trần Đại P và bị hại Dương Thị H7 không có mâu thuẫn hay va chạm giao thông nhưng bị cáo đã dùng tay, chân đánh, gây thương tích cho chị H7 với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Dương Thị H7 là 11%. Bị cáo bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi; hiểu và biết được việc xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo không những mang tính chất côn đồ mà còn thể hiện sự xem thường pháp luật nên cần xử phạt nghiêm nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Đại P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đại P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi do bệnh tâm thần nên phải thường xuyên uống thuốc điều trị, có 03 con nhỏ, trong đó; có một con riêng của bị cáo cũng bị bệnh tâm thần nên rất cần sự trông nom, chăm sóc của bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, là lao động chính trong gia đình, vợ không có nghề nghiệp ổn định. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, lao động phụ giúp cho gia đình và các con nhỏ. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[4] Đề nghị của người bào chữa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo Trần Đại P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đại P7 Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Trần Đại P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Bị cáo Trần Đại P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi,
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND, TAND thành phố Quảng Ngãi;
  • - Công an thành phố Quảng Ngãi;
  • - THADS thành phố Quảng Ngãi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 82/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger