TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 82/2023/HSST Ngày: 30-11-2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải
Ông Ninh Quốc Hòa
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú R, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú R, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/HSST ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1.1. Họ và tên: Lê M D (Tên gọi khác: T), sinh năm 1998 tại Bình Phước; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn TH1, xã Bù N, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông Lê Văn P, sinh năm 1970 và bà Vũ Thị L, sinh năm 1980; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28-6-2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Công an tỉnh Bình Phước về hành vi giết người theo Quyết định khởi tố vụ án số 27/2023 ngày 09-7-2023 và Quyết định khởi tố bị can số 66/2023 ngày 28-8-2023 của Công an tỉnh Bình Phước “Có mặt tại phiên tòa”.
1.2. Họ và tên: Cao Việt M, sinh năm 1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 2, xã Long T, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước tại Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm nông; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Cao Bá K, sinh năm 1951 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1951; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam, từ ngày 28-6-2023 cho đến nay. “Có mặt tại phiên tòa".
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cao Thị Mai N, sinh năm 1984 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, xã Long T, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước.
*Người chứng kiến: Ông Lê Văn T, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 1, Lê Văn T, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Việt M, Lê M D và Lê Văn T, sinh năm: 1995, cư trú tại: thôn 1, Lê Văn T, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước là bạn bè quen biết với nhau.
Khoảng 13 giờ ngày 28-6-2023, M gọi điện thoại cho D hỏi “có gì vui không” (ý M hỏi D là có ma túy để sử dụng không) thì D nói “không có, ra đây rồi tính”. Sau đó, M điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu OSAKAR của chị ruột là bà Cao Thị Mai N, trú tại: thôn 1, xã Long T, huyện Phú R đi đến nhà của Nguyễn Thị Lệ T ở thôn Tân L, xã Bù N, huyện Phú R để hỏi mua ma túy của Thu về sử dụng. Khi đến cổng nhà Thu, M gọi Thu thì có một người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch đi ra gặp M. Tại đây, M hỏi mua ma túy của người này với số tiền 200.000 đồng thì người thanh niên này nói M chạy xe xuống phía dưới đường lô cao su đứng đợi, M đưa cho người thanh niên này số tiền 200.000 đồng rồi chạy xe đi. Khoảng 10 phút sau, người thanh niên này đi đến chỗ hẹn đưa cho M một gói nylon hàn kín bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, M đi đến phòng trọ của D tại Thôn TH1, xã Bù N và nói với D là vừa mua được 200.000 đồng ma túy rồi M đưa gói ma túy này cho D. Lúc này, D lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của D có sẵn ở trong phòng ra, cắt gói ma túy rồi đổ vào bên trong nỏ thủy tinh (ống thủy tinh). Trong lúc D đang đổ ma túy vào nỏ thủy tinh thì T đến cửa phòng trọ gọi D nên D ra mở cửa cho T vào rồi D tiếp tục đổ hết số ma tùy còn lại vào nỏ thủy tinh. Sau đó, M dùng bật lửa gas nhãn hiệu Pinggao đốt cho ma túy chảy ra rồi M, D, T thay nhau sử dụng ma túy được khoảng 20 phút thì hết. D mang cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại phía dưới tủ lạnh và tất cả nằm trên nền nhà chơi. Lúc này, lực lượng Công an huyện Phú R phối hợp với Công an xã Bù N đến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M và D, đồng thời thu giữ tang vật gồm:
- 01 bật lửa gas nhãn hiệu Pinggao.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 vỏ chai nhựa màu trắng nhãn hiệu Pepsi, cao 20,5cm, đường kính đáy 6,0cm, đường kính miệng 2,4cm, năp chai được dục 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút bằng nhựa màu trắng, vàng đường kính 0,5cm, dài 17,5cm; 01 lỗ gắn với 01 nỏ thủy tinh dài 17cm, được uốn cong, một đầu phình to hình cầu đường kính 1,2cm bên trong nỏ còn bám dính khói màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá.
- 01 xe đạp điện nhãn hiệu OSAKA đã qua sử dụng.
Tại cơ quan điều tra, D và M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại Bản kết luận giám định số: 726/KL-KTHS ngày 05-7-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận:
- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là M=0,0978 gam (không phẩy không chín bảy tám gam).
- Chất màu nâu (ký hiệu M) bám dính trong bầu tròn của nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0094 gam(không phẩy không không chín tư gam).
* Kèm theo kết luận giám định: Không.
* Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại Bản cáo trạng số 83/CTr-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú R, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê M D và Cao Việt M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38;58 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê M D mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Cao Việt M mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng trong vụ án và về án phí hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng của vụ án, kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã xác định được: Ngày 28-6-2023, do có nhu cầu sử dụng trái phép ma túy nên Cao Việt M đã có hành vi mua ma túy loại Methamphetamine với số tiền 200.000 đồng, có khối lượng là 0,1072 gam (không phẩy một không bảy hai gam) rồi đến phòng trọ của Lê M D thuộc Thôn TH1, xã Bù N, huyện Phú R, tỉnh Bình Phước đưa ma túy cho D. Tại đây, D có hành vi chuẩn bị 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá rồi bỏ số ma túy trên vào nỏ thủy tinh và dùng bật lửa gas đốt nóng ống thủy tinh cho ma túy chảy rồi M, D và T cùng nhau sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của các bị cáo đã thực hiện đã vào phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
“Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
................
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về mua bán, cất giữ chất ma túy. Các bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức về tác hại của hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy sẽ gây ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người và là nguyên nhân trực tiếp gây ra nhiều tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Cao Việt M là người người giữ vai trò chính, mang tính chất quyết định trong vụ án, là người trực tiếp mua ma túy về đưa cho D. Bản thân D tiếp nhận ý chí và chuẩn bị 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá rồi bỏ số ma túy trên vào nỏ thủy tinh và dùng bật lửa gas đốt nóng ống thủy tinh cho ma túy chảy rồi M, D và T cùng nhau sử dụng.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo có tính nguy hiểm cao, thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm để cải tạo các bị cáo, đồng thời để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các các bị cáo.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê M D có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Cao Việt M có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu;bản thân bị cáo đã nhiều lần tham gia hiến máu cứu người; Cha ruột bị cáo là ông Cao Bá K tham gia kháng chiến và hiện là thương binh được hưởng trợ cấp của nhà nước đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; cha bị cáo là ông Cao Bá K và mẹ bị cáo là bà Vũ Thị H là thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến tại tỉnh Quảng Bình năm 2008. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo HĐXX xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với đối tượng bán ma túy cho M. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Phú R chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên tách ra để tiếp tục điều tra, xác M, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Đối với Lê Văn T là người sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã lập hồ sơ để đề nghị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính Phủ nên nên HĐXX không xem xét.
Đối với hành vi giết người của bị cáo Lê M D đã được Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Phước ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 vỏ chai nhựa màu trắng nhãn hiệu Pepsi, cao 20,5cm, đường kính đáy 6,0cm, đường kính miệng 2,4cm, nắp chai được dục 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút bằng nhựa màu trắng, vàng đường kính 0,5cm, dài 17,5cm; 01 lỗ gắn với 01 nỏ thủy tinh dài 17cm, được uốn cong, một đầu phình to hình cầu đường kính 1,2cm và 01 bật lửa gas nhãn hiệu Pinggao là công cụ mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe đạp điện nhãn hiệu OSAKA là tài sản hợp pháp của bà Cao Thị Mai N. Việc M mượn xe làm phương tiện đi lại rồi sau đó sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng thì bà Nga không biết. Do đó cần trả lại cho bà Nga là phù hợp.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng pháp luật và mức hình phạt là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh, áp dụng pháp luật và mức hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Lê M D (Tên gọi khác: T) và Cao Việt M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38,50,58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê M D (Tên gọi khác: T) 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28-6-2023.
Hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Bình Phước.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1,2 Điều 51; các Điều 38,50,58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Cao Việt M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28-6-2023.
[2]. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào các Điều 47,48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: 01 vỏ chai nhựa màu trắng nhãn hiệu Pepsi, cao 20,5cm, đường kính đáy 6,0cm, đường kính miệng 2,4cm, nắp chai được dục 02 lỗ, 01 lỗ gắn với ống hút bằng nhựa màu trắng, vàng đường kính 0,5cm, dài 17,5cm; 01 lỗ gắn với 01 nỏ thủy tinh dài 17cm, được uốn cong, một dầu phình to hình cầu đường kính 1,2cm và 01 bật lửa gas nhãn hiệu Pinggao.
- Tuyên trả cho bà Cao Thị Mai N 01 xe đạp điện nhãn hiệu OSAKA (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0011919 ngày 13 tháng 10 năm 22023 của Công an huyện Phú R và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú R).
[3]. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Lê M D (Tên gọi khác: T) và Cao Việt M mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
[4]. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Phú R; - Chi cục THADS huyện Phú R; - CA huyện Phú R; - Các bị cáo; người tham gia tố tụng - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hảo |
Bản án số 82/2023/HSST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 82/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38,50,58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Lê M D (Tên gọi khác: T) 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28-6-2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Bình Phước. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1,2 Điều 51; các Điều 38,50,58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Cao Việt M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28-6-2023.
