Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÙNG KHÁNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày 29/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nông Thế Hạp.

Bà Ngôn Thị Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 12/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Triệu Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 9 năm 2000 tại xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm B, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Triệu Văn H và bà Nông Thị Đ; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: 01 tiền án ngày 06/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 08/6/2023 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tiền sự: không.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 02/01/2024 đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

  • - Khằm Văn P, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
  • - Nông Văn Đ1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Xóm L, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
  • - Chung Văn T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
  • - Dương Văn H1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm C, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 ngày 02/01/2024, tổ công tác Công an xã Q phối hợp với Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện T và Đồn Biên phòng Cửa khẩu T2 làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại xóm B, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Triệu Văn Q, sinh năm 2000, đang đứng trước cửa nhà của mình có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tạm giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái 01 gói nhỏ bằng giấy kẻ ngang bên trong chứa chất bột màu trắng (Q khai nhận là ma tuý, loại H2); 01 điện thoại di động dạng bàn phím, nhãn hiệu NOKIA màu đen; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO màu xanh dương.

Hồi 14 giờ 40 cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở Triệu Văn Q phát hiện và tạm giữ tại buồng ngủ của Q 03 mảnh giấy.

Hồi 16 giờ 30 cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân số chất bột màu trắng tạm giữ của Triệu Văn Q là 0,18 gam và trích lấy mẫu gửi trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 79/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Triệu Văn Q khai bản thân nghiện ma túy từ năm 2017. Từ tháng 12/2023, ngoài việc mua ma túy về sử dụng thì Q còn bán để kiếm lời. Hình thức giao dịch là đối tượng nghiện gọi điện, liên lạc qua ứng dụng Messenger Facebook trước, Q sẽ hẹn địa điểm giao dịch rồi gặp trực tiếp đưa tiền thì Q đưa ma túy. Số ma tuý bị thu giữ là Q mua với Lê Quang H3, sinh năm 1994, trú tại xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Trước khi bị bắt Q đã được bán ma tuý cho những người có tên, địa chỉ sau: Nông Văn Đ1, sinh năm 1998, trú tại xóm L, xã Q, huyện T 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng; Chung Văn T1, sinh năm 1990, trú tại xóm Đ, xã T, huyện T 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng; Dương Văn H1, sinh năm 1991, trú tại xóm C, xã C, huyện H 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng; Khằm Văn P, sinh năm 1998, trú tại xóm T, xã Q, huyện T 01 lần với số tiền 200.000 đồng. Tổng cộng làm rõ được Triệu Văn Q bán ma tuý 07 lần cho 04 người, thu được số tiền 3.200.000 đồng.

Đối với tài sản tạm giữ xác định được: 02 điện thoại bị cáo dùng để liên lạc hằng ngày và trao đổi mua bán trái phép chất ma túy. Các mảnh giấy bị cáo dùng để gói ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 73/CT-VKSTK ngày 12/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Triệu Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Bản thân nghiện nên ngoài việc mua ma túy về sử dụng thì bị cáo còn bán để kiếm lời từ tháng 12/2023 cho đến ngày bị bắt bị bắt. Trước khi bị bắt, bị cáo đã bán ma túy cho những người với số lần, số tiền như Cáo trạng đã truy tố. Nguồn gốc ma túy thu giữ lúc bắt là do bị cáo mua với Lê Quang H3, sinh năm 1994, trú tại xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Việc mua bán chỉ có bị cáo với H3 biết, ngoài ra không có tài liệu chứng minh. Đối với 2 chiếc điện thoại bị thu giữ có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo. Nay bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn Q từ 07 năm 03 tháng đến 08 năm tù.

Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ và 03 mảnh giấy; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động. Truy thu bị cáo số tiền 3.200.000₫ để sung quỹ Nhà nước. Buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền mua bán ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Hồi 13 giờ 00 ngày 02/01/2024, tổ công tác Công an xã Q phối hợp với Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện T và Đồn Biên phòng Cửa khẩu T2 làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại xóm B, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Triệu Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,18g. Mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo đã bán ma túy 07 lần cho 04 người, thu được số tiền 3.200.000 đồng. Cụ thể: Nông Văn Đ1 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng; Chung Văn T1 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng; Dương Văn H1 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng; Khằm Văn Phong 01 lần với số tiền 200.000 đồng. Hình thức giao dịch là điện thoại trước hẹn địa điểm để mua ma túy, địa điểm bán ngoài đường nơi vắng ít người qua lại.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác nhưng vì lợi nhuận và nghiện nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã bán ma túy nhiều lần, mỗi lần đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích của Bản án trước đó nên phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo nhận thức được việc sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt của Bản án trước đó lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo nên là người có nhân thân xấu. Do đó, cần thiết phải xử nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống một thời gian để răn đe bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đưa ra là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4]. Về vật chứng: Số Heroine thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành, 03 mảnh giấy liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 02 điện thoại di động bị cáo dùng để liên lạc trao đổi mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

[6]. Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bị cáo khai mua với Lê Quang H3, sinh năm 1994, trú tại xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Ngoài lời khai bị cáo không có tài liệu gì để chứng minh. Quá trình điều tra, tiến hành lấy lời khai và đối chất H3 không thừa nhận được bán ma túy cho Q nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý Hiệu trong vụ án này là có căn cứ.

[7]. Về truy thu số tiền thu lợi bất chính: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ được bị cáo bán ma túy 07 lần cho 04 người thu về số tiền 3.200.000đ. Vì vậy, cần truy thu đối với bị cáo số tiền này để sung quỹ Nhà nước.

[8]. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Văn Q 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 02/01/2024.
  3. Truy thu bị cáo số tiền 3.200.000đ để sung quỹ Nhà nước.
  4. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng vụ Triệu Văn Q xảy ra ngày 02/01/2024";
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “03 mảnh giấy”;
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO;
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA bàn phím bấm.

    Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Triệu Văn Q phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Q (bằng TB);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nông Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger