Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc

Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài

Ông Trần Văn Việt Bà Trần Thanh Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22, 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thanh Phương H, sinh năm 1987 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: Tổ A, khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên Chúa; Con ông Nguyễn Văn K (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1964); có chồng là Hà Minh C (sinh năm 1987) và 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt ngày 22/9/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

* Người bào chữa: Luật sư Phạm Lan T1 – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

* Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu P, sinh năm 1990. Địa chỉ: Căn hộ L Vinhomes C, G Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  2. Ông Lê Văn C1, sinh năm 1975. Địa chỉ: thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
  3. Ông Vũ Xuân Q, sinh năm 1970. Địa chỉ: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. (có mặt)
  4. Ông Phạm Đức G, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
  5. Ông Lê Duy T2, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa lợi liên quan:

  1. Ông Trần Hữu T3, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
  2. Ông Lê Văn T4, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Nội dung vụ án:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân, từ năm 2022 đến năm 2023, Nguyễn Thanh Phương H đã dùng thủ đoạn cung cấp thông tin gian dối bản thân H là cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C có đủ khả năng giải quyết hồ sơ đất đai; sử dụng thông tin giấy tờ đất của người khác rồi tự nhận bản thân có quyền chuyển nhượng đất ....làm cho nhiều người tin tưởng là thật nên đưa hồ sơ và tiền cho H để giải quyết hồ sơ đất đai và nhận chuyển nhượng đất mà không biết thực chất đã bị H lừa dối để chiếm đoạt. Khi bị hại phát giác sự việc thì H thông qua mạng xã hội Facebook, Z cung cấp thông tin thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) giả giao cho bị hại cầm giữ để trì hoãn việc trả lại tiền.

Ngoài ra, khi bị Công an huyện C điều tra sự việc thì H lợi dụng sơ hở đã chụp ảnh kho xe của Công an huyện C rồi bịa đặt H mua được lô xe thanh lý rồi mời chào người khác góp tiền kinh doanh làm cho nhiều người tin tưởng là thật nên đưa tiền cho H mà không biết thực chất đã bị H lừa dối để chiếm đoạt.

Cụ thể như sau:

[1] Hành vi lừa dối chiếm đoạt 230 triệu đồng và sử dụng tài liệu giả của Nguyễn Thanh P1 Huệ đối với ông Lê Văn C1 (sinh năm 1975; trú tại thôn T, xã B, huyện C):

Huệ biết ông C1 có thửa đất số 165 tờ bản đồ số 36 diện tích 2.667 m2 theo sổ đỏ số seri CA977537 do UBND huyện C cấp ngày 24/11/2015 muốn làm thủ tục tách thành 4 thửa và chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang thổ cư mỗi thửa 80m² nên ngày 04/03/2022, H đến nhà ông C1 nói dối H chuyên làm dịch vụ tách thửa và chuyển mục đích sử dụng đất chỉ với giá 230 triệu đồng. Tin tưởng là thật nên ông C1 đưa trước cho H 140 triệu đồng mà không biết thực chất đã bị H lừa dối chiếm đoạt. Để củng cố niềm tin cho ông C1, H viết giấy nhận 140 triệu đồng và cam kết trong vòng 6 tháng nếu không thực hiện được sẽ đền tiền gấp đôi.

Ngày 28/03/2022, H tiếp tục gian dối yêu cầu ông C1 đưa tiền để đóng tiền thuế chuyển mục đích sử dụng đất. Tin tưởng thật nên ông C1 đưa cho H 20 triệu đồng mà không biết thực chất đã bị H lừa dối chiếm đoạt.

Ngày 11/05/2022, H tiếp tục gian dối yêu cầu ông C1 đến Văn phòng C2 tại thị trấn N, huyện C ký công chứng Giấy ủy quyền (số công chứng 839 Quyển 1/2022) cho H đi làm thủ tục tách thửa và chuyển mục đích sử dụng đất cho ông C1. Tin tưởng thật nên ông C1 giao bản chính sổ đỏ số CA977537 và 70 triệu đồng cho H mà không biết thực chất đã bị lừa dối chiếm đoạt.

Quá hạn cam kết, ông C1 gọi hỏi thì H gian dối khất hẹn nhiều lần rồi thú nhận sự việc. Ông C1 đòi lại tiền và sổ đỏ thì H chỉ trả sổ đỏ và 110 triệu đồng. Đến tháng 11/2022, ông C1 liên tục đòi 120 triệu đồng còn lại nhưng H không trả. Sau đó, thông qua mạng xã hội Facebook và Z, H cung cấp thông tin cá nhân thuê một đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả sổ đỏ số BC608553 của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/9/2020 đứng tên Nguyễn Thanh P1 Huệ chủ thửa đất số 385 tờ bản đồ số 38 diện tích 490 m² tại H, ấp N, xã B, huyện C với giá 2,5 triệu đồng rồi giao sổ đỏ giả này cùng 03 sổ đỏ đứng tên người khác cho ông C1 cầm giữ. Ông C1 nhờ người kiểm tra các sổ đỏ đã phát hiện sổ đỏ số BC608553 là sổ giả nên trình báo sự việc và giao nộp 01 sổ đỏ giả số BC608553 cho Công an huyện C.

Kết luận giám định số 61/KL-KTHS-TL ngày 05/05/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B xác định sổ đỏ giả số BC608553, chữ ký Đặng Sơn H1 và hình dấu (hình dấu tròn, hình dấu chức vụ, hình dấu tên) tròn trên mẫu cần giám định (mẫu A) không phải giống chữ ký, hình dấu trên mẫu so sánh (mẫu M) (BL77).

[2] Hành vi của Nguyễn Thanh P1 H lừa dối chiếm đoạt 145 triệu đồng từ bà Nguyễn Thị Thu P:

Bà P có thửa đất số 173 tờ bản đồ số 5 diện tích 756 m2 tại xã L, huyện C theo sổ đỏ số CS808125 do Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B cấp ngày 26/8/2019 cần chuyển mục đích sử dụng 200m² sang đất ở và cấp đổi sổ đỏ. Thông qua giới thiệu của các ông Trần Hữu T3 và ông Lê Văn T4, ngày 25/09/2022, bà P liên hệ với H thì H nói dối bản thân đang làm Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện C, đồng ý làm hồ sơ theo yêu cầu của bà P với giá 185 triệu đồng, hứa trong vòng 4 tháng (đến ngày 25/01/2023) sẽ làm xong; nếu không làm được thì H sẽ đền tiền gấp đôi. Để củng cố niềm tin, H làm hợp đồng dịch vụ cho bà P có sự chứng kiến của các ông T4, T3. Tin tưởng là thật nên bà P chuyển cho H 125 triệu đồng phí dịch vụ lần 1 mà không biết thực chất đã bị H lừa dối chiếm đoạt. Ngoài ra, bà P còn trả cho T4 20 triệu đồng công môi giới. T4 hưởng 12 triệu đồng, chia cho T3 8 triệu đồng,.

Ngày 14/10/2022, H gian dối yêu cầu bà P đến Văn phòng công chứng Phạm Trung D tại thị trấn N, huyện C ký công chứng Giấy ủy quyền (số công chứng 1125 ngày 14/10/2022) và giao bản chính sổ đỏ số CS808125 cho H quản lý. Ngày 29/11/2022, H nói dối với bà P là quá trình làm hồ sơ bị thiếu tiền nên yêu cầu bà P chuyển thêm 20 triệu đồng. Tin tưởng là thật nên bà P chuyển cho H 20 triệu đồng mà không biết thực chất đã bị H lừa dối chiếm đoạt.

Sau khi nhận 145 triệu đồng của bà P, H không liên hệ gì với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết hồ sơ mà tiêu xài cá nhân hết. Tháng 6/2023, bà P đã tố cáo H đến Công an huyện C.

[3] Hành vi của Nguyễn Thanh P1 Huệ lừa dối chiếm đoạt 300 triệu đồng từ ông Vũ Xuân Q:

Tháng 12/2022, ông Q có nhu cầu mua đất đã liên hệ hỏi thì H nói dối là có thửa đất số 173 tờ bản đồ số 5 diện tích 756 m2 tại xã L, huyện C theo sổ đỏ số CS808125 của Sở T tỉnh cấp ngày 26/8/2019 đã được H đặt cọc nhận chuyển nhượng nhưng chưa ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng sang tên, nay bán lại ông Quảng giá 770 triệu đồng, hẹn ngày 22/02/2023 sẽ ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Tin tưởng là thật nên ngày 04/12/2022, ông Q giao cho H 200 triệu đồng và làm hợp đồng đặt cọc mà không biết thực chất đã bị H lừa dối chiếm đoạt. Đến ngày 01/01/2023, H tiếp tục gian dối yêu cầu ông Q đưa thêm 100 triệu đồng nữa để chiếm đoạt.

Sau đó, H gian dối hứa hẹn, đưa ra nhiều lý do để né tránh việc làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất rồi nói không đồng ý ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Q, hứa hẹn sẽ trả lại tiền nhận cọc. Ngày 12/6/2023, ông Q đã làm đơn tố cáo H tại Công an huyện C.

[4] Hành vi của Nguyễn Thanh P1 Huệ lừa dối chiếm đoạt 18,4 triệu đồng từ anh Phạm Đức G và 283,6 triệu đồng từ anh Lê Duy T2:

Khoảng đầu tháng 8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C triệu tập Nguyễn Thanh P1 Huệ để làm việc liên quan đến các vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tiền và sử dụng sổ đỏ giả như đã nêu trên. H lợi dụng lúc đi vệ sinh đã sử dụng điện thoại di động chụp ảnh kho xe của Công an huyện C nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 10/8/2023, H gọi điện thoại cho anh G nói dối là H mới mua được lô xe thanh lý từ Bộ C3, ký hợp đồng mua bán tại Công an huyện C gồm 1.000 xe mô tô (trong đó có 50% xe ve chai, 30 % xe có giấy tờ, 20% xe không có giấy tờ, nhưng vẫn sử dụng tốt và cam kết làm được giấy tờ) với giá 440 triệu đồng rồi nhờ anh G bán lô xe này. H gửi các hình ảnh chụp từ kho xe Công an huyện C qua Zalo cho anh G xem. Tưởng thật nên anh G nói với H là anh G và anh T2 sẽ góp tiền cùng H để mua lô xe này bán lại kiếm lời. H hẹn các anh G, T2 đến huyện C để làm hợp đồng. Ngày 14/8/2023, anh G và anh T2 gặp H tại quán C4 ở thị trấn N. Tại đây, H viết hợp đồng mua xe thanh lý nội dung: H và các anh G, T2 cùng mua xe thanh lý, H bỏ ra 160 triệu đồng, các anh G và anh T2 góp 140 triệu đồng/1 người, xe thanh lý sẽ chuyển về nhà của anh T2 vào ngày 18/8/2023. Do anh G đang khó khăn về tài chính nên H nhận sẽ chịu phần tiền của anh G.

Sau đó, anh T2 chuyển 100 triệu đồng vào tài khoản số [...] của H tại S. Đến ngày 18/8/2023, không thấy xe về, các anh G, T2 liên lạc thì H gian dối bịa đặt nhiều lý do như xe đang bốc lên container, đang vận chuyển tại L.... để trì hoãn việc giao xe cho anh T2. Sau đó, H nhờ đối tượng Nguyễn Thanh P1 (sinh năm 1991; trú tại thôn T, xã B, huyện C) đóng giả người đàn ông tên “Lép” là anh xã hội của H gọi điện thoại cho anh T2 nói “xe đang về, cứ yên tâm mọi thủ tục H đang lo” để anh T2 tin tưởng không hối thúc giao xe. Sau đó, H tiếp tục yêu cầu anh T2 chuyển tiền để làm thủ tục đưa xe về và nhờ P1 gọi điện nói với anh T2 đã “lo đường cho xe về hết 60 triệu đồng”. Với thủ đoạn này, H đã nhiều lần yêu cầu anh T2 và anh G chuyển khoản và giao tiền mặt cho H để chiếm đoạt với tổng số tiền là 302 triệu đồng, trong đó chiếm đoạt của anh G 18,4 triệu đồng, chiếm đoạt của anh T2 283,6 triệu đồng. Ngày 14/9/2023, các anh G, T2 tố cáo H đến Công an huyện C.

1.2. Vật chứng:

Chuyển theo hồ sơ vụ án 01 (một) sổ đỏ giả số BC608553 đứng tên Nguyễn Thanh Phương H (BL91).

1.3. Phần dân sự:

  • Ông Lê Văn C1 yêu cầu bị cáo hoàn trả 120 triệu đồng;
  • Ông Vũ Xuân Q yêu cầu bị cáo hoàn trả 300 triệu đồng;
  • Bà Nguyễn Thị Thu P yêu cầu bị cáo hoàn trả 145 triệu đồng;
  • Ông Phạm Đức G yêu cầu bị cáo hoàn trả 18,4 triệu đồng;
  • Ông Lê Huy T5 Yêu cầu bị cáo hoàn trả 283,6 triệu đồng.

Bị cáo chưa khắc phục.

1.4. Các vấn đề khác có liên quan:

  • Đối tượng Nguyễn Thanh P1 H khai thuê làm giả sổ đỏ giả số BC608553 đứng tên Nguyễn Thanh Phương H: Cơ quan điều tra đang truy xét, khi nào đủ chứng cứ xử lý sau theo quy định.
  • Nguyễn Thanh P1 theo hướng dẫn của Nguyễn Thanh P1 H đóng giả người tên “Lép” gọi điện cho anh T5 thông báo về việc vận chuyển xe và phí vận chuyển: P1 không biết thông tin H nhờ P1 nói là giả và để H thực hiện hành vi lừa đảo đối với anh T5, anh G. Giữa P1 và H không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước. P1 cũng không hưởng lợi ích gì từ việc giúp H gọi điện cho anh T5. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý hình sự đối với P1.

2. Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS-P2 ngày 19 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Phương H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P1 H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; đề nghị hình phạt:

  • Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P1 Huệ 13 (Mười ba) - 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P1 Huệ 06 (Sáu) - 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.

Xử lý vật chứng: theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Phương H bồi thường cho các bị hại theo yêu cầu của các bị hại. Tại phiên toà, ông G không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không giải quyết.

4. Đối đáp và tranh luận tại phiên toà:

4.1. Luật sư Phạm Lan T1 bào chữa cho bị cáo như sau:

Nhất trí với tội danh, Điều khoản Viện Kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội;. Hành vi và hậu quả tội phạm đúng như cáo trạng thể hiện, bị cáo Nguyễn Thanh P1 H dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của 05 bị hại tổng số tiền 997 triệu đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó đặc biệt lưu tâm đến hoàn cảnh, điều kiện bị cáo phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, đáng thương, không biết mặt cha từ nhỏ, nuôi mẹ già và 03 con nhỏ, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất thể hiện tính nhân văn, sự khoan hồng của pháp luật.

4.2. Bị cáo Nguyễn Thanh Phương H thống nhất theo quan điểm bào chữa của Luật sư và không bào chữa bổ sung.

4.3. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, đề nghị bị cáo hoàn trả tiền đã chiếm đoạt cho bị hại. Bị hại Phạm Đức G không yêu cầu bị cáo bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì biết hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn.

4.4. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, hối lỗi về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Trong các năm 2022 - 2023, Nguyễn Thanh Phương H đã dùng thủ đoạn cung cấp thông tin gian dối mình là cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có khả năng giải quyết hồ sơ đất đai, dùng thông tin giấy tờ đất của người khác để tự nhận bản thân có quyền chuyển nhượng đất; làm cho nhiều người tưởng là thật, giao hồ sơ đất đai và tiền theo yêu cầu của bị cáo để giải quyết hồ sơ đất đai và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, và bị bị cáo chiếm đoạt. Khi bị phát giác, triệu tập đến để điều tra tại Công an huyện C, bị cáo chụp ảnh kho xe của Công an huyện C gửi cho người khác, bịa đặt thông tin là mình mua được lô xe thanh lý, mời chào người khác góp tiền kinh doanh chung khiến cho nhiều người tin tưởng là thật, giao tiền cho bị cáo theo yêu cầu và bị chiếm đoạt. Cụ thể: ông Lê Văn C1 230.000.000 đồng, ông Vũ Xuân Q 300.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu P 145.000.000 đồng, ông Lê Huy T5 283.600.000 đồng, ông Phạm Đức G 18.400.000 đồng.

Khi bị phát giác, bị cáo thông qua mạng xã hội Facebook, Z cung cấp thông tin thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số BC608553, giao cho bị hại ông Lê Văn C1 cầm giữ để trì hoãn việc trả lại tiền.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thanh P1 Huệ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản là khách thể được pháp luật bảo vệ, phải tôn trọng, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, trả nợ, mặc dù không có khả năng thực hiện dịch vụ liên quan đất đai, không liên quan và không có bất kỳ quyền năng nào của người sử dụng đất, không hề có việc mua bán lô xe cơ giới phát mãi, bị cáo cố tình đưa ra thông tin gian dối khiến bị hại tưởng giả là thật về việc bị cáo có quyền chuyển nhượng thửa đất, có khả năng làm các dịch vụ liên quan đất đai, có việc mua lô xe cơ giới phát mãi từ Bộ C3, giao tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuế và phí dịch vụ đất đai theo yêu cầu của bị cáo và bị cáo chiếm đoạt của 05 bị hại tổng cộng 997.000.000 đồng. Quá trình lừa dối, chiếm đoạt tiền của bị hại, khi bị phát giác bị cáo đã thuê người làm giả và sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả giao cho bị hại để trì hoãn việc trả tiền cho bị hại. Việc làm giả, sử dụng giấy tờ giả của bị cáo đã xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính và uy tín của cơ quan Nhà nước, tổ chức, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội nhiều lần với số tiền lớn, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho các tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đã trả lại một phần tiền chiếm đoạt cho bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

[5.1] Trước khi mở phiên toà, ông Phạm Đức G yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh Phương H hoàn trả 18.400.000 đồng. Tại phiên toà, anh G không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì thấy hoàn cảnh bị cáo khó khăn, nuôi mẹ già. Vì vậy, không xem xét, giải quyết việc bồi thường cho bị hại này.

[5.2.] Các bị hại còn lại yêu cầu bị cáo bị cáo Nguyễn Thanh Phương H hoàn trả tiền đã chiếm đoạt. Đây là yêu cầu hợp pháp nên buộc bị cáo phải trả lại cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt theo yêu cầu của các bị hại, cụ thể: ông Lê Văn C1 120.000.000 đồng, ông Vũ Xuân Q 300.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu P 145.000.000 đồng, ông Lê Huy T5 283.600.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số BC608553 đứng tên Nguyễn Thanh Phương H.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Phương H phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P1 Huệ 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Phương H 01 (Một) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của các tội buộc bị cáo Nguyễn Thanh P1 Huệ phải chấp hành là 14 (Mười bốn) năm tù, tính từ ngày 22/9/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Thanh P1 Huệ tiếp tục bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại ông Lê Văn C1 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), ông Vũ Xuân Q 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), bà Nguyễn Thị Thu P 145.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng), ông Lê Huy T5 283.600.000 đồng (Hai trăm tám mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (Một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số BC608553 đứng tên Nguyễn Thanh Phương H.

4. Án phí sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thanh P1 Huệ nộp 37.658.000 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 37.458.000 đồng (Ba mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/7/2024), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Phương H Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger