Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LONG AN

Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29-5-2024

V/v ly hôn giữa bà L và ông D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Hồng Thanh.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1979 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
  2. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn: Ông Võ Tấn D, sinh năm: 1978 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2024 và bản tự khai ngày 29/3/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:

Bà L và ông D tổ chức lễ cưới vào năm 1997, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/1998 ngày 12/01/1998. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông D đã thay đổi về mặt tình cảm, bên cạnh đó vợ chồng còn mâu thuẫn về tiền bạc và chi tiêu trong gia đình. Bà và ông D đã ngồi lại nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Bà L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu ly hôn với ông D.

Về nuôi con chung: bà L và ông D chung sống có 04 con chung tên Võ Thị Huỳnh N, sinh ngày 19/6/1999; Võ Tân D, sinh ngày 18/11/2000; Võ Thị Xuân N, sinh ngày 03/11/2003 đều đã trưởng thành và Võ Tấn Đ, sinh ngày 07/9/2008. Hiện nay Võ Tấn Đ đang sống chung với ông Võ Tấn D. Khi ly hôn, bà L yêu cầu ông D tiếp tục nuôi con Võ Tấn Đ, bà L không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Đối với bị đơn ông Võ Tấn D, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Võ Tấn D. Ông D không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà L, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu:

Về tố tụng: thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 35, 39, 68, 97, 98, 195, 196, 208 của Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ việc; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về hôn nhân: căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim L. Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Võ Tấn D.

Về nuôi con chung: bà L và ông D chung sống có 04 con chung tên Võ Thị Huỳnh N, sinh ngày 19/6/1999; Võ Tân D, sinh ngày 18/11/2000; Võ Thị Xuân N, sinh ngày 03/11/2003 đều đã trưởng thành và Võ Tấn Đ, sinh ngày 07/9/2008. Ông D được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Tấn Đ, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu.

Yêu cầu kiến nghị, khắc phục vi phạm: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Nguyễn Thị Kim L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Tấn D, ông D hiện đang cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Bà Nguyễn Thị Kim L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; ông Võ Tấn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông D theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim L và ông Võ Tấn D có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/1998 ngày 12/01/1998 nên xác định hôn nhân giữa bà L và ông D là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L trình bày, sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông D đã thay đổi về mặt tình cảm, bên cạnh đó vợ chồng còn mâu thuẫn về tiền bạc và chi tiêu trong gia đình. Bà và ông D đã ngồi lại nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Bà L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu câu ly hôn với ông D. Đối với ông D, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D nhưng ông D không có ý kiến phản hồi và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông D không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà L. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông D.

[2.2] Về nuôi con chung: bà L và ông D chung sống có 04 con chung tên Võ Thị Huỳnh N, sinh ngày 19/6/1999; Võ Tấn D, sinh ngày 18/11/2000; Võ Thị Xuân N, sinh ngày 03/11/2003 đều đã trưởng thành và Võ Tấn Đ, sinh ngày 07/9/2008. Đối với 03 con chung tên Võ Thị Huỳnh N, Võ Tấn D, Võ Thị Xuân N đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với con chung tên Võ Tấn Đ, bà L yêu cầu ông D tiếp tục nuôi con. Ông D không có ý kiến phản hồi đối với vấn đề này. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung Võ Tấn Đ hiện đang sống chung với ông D, cuộc sống đã ổn định và cháu Đô có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với ông D. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con chung tên Võ Tấn Đ, sinh ngày 07/9/2008 cho ông D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, bà L trình bày không cấp dưỡng nuôi con, ông D không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà L trình bày không có, ông D không có ý kiến phản hồi về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí: bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Võ Tấn D.

  1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn với ông Võ Tấn D.
  2. Về nuôi con chung: bà L và ông D chung sống có 04 con chung tên Võ Thị Huỳnh N, sinh ngày 19/6/1999; Võ Tấn D, sinh ngày 18/11/2000; Võ Thị Xuân N, sinh ngày 03/11/2003 đều đã trưởng thành và Võ Tấn Đ, sinh ngày 07/9/2008. Ông D được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Tấn Đ, sinh ngày 07/9/2008. Bà Nguyễn Thị Kim L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về án phí: bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai thu số 0010065 ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà L đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện C;
  • - THADS huyện C;
  • - UBND xã P, huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thủy Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về ly hôn (tranh chấp ly hôn, nuôi con chung)

  • Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger