TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2021/HSST Ngày: 28/11/2024 |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------------
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Đào và bà Nguyễn Thị Hường
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Dương Thị Hồng Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94 ngày 10/10/2024, Quyết định hoãn phiên toà số15/2024 ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Thị H; tên gọi khác: Không; giới tính: nữ; sinh ngày 13/01/1985; nơi ĐKHKTT: Bản Hiêng – xã B - Q - tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Công chức Văn phòng thống kê UBND xã B, huyện Q; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ1, ngày 23/5/2024 bị khai trừ ra khỏi Đảng; con ông Lương Văn D sinh năm 1966 và bà Vi Thị L – sinh năm 1964; Chồng: Lương Văn T, sinh năm 1985; con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ sinh tháng 4 năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại. Có mặt.
Người bị hại: Anh Cảnh Văn T1 sinh năm 1969 và chị Hồ Thị Thành V sinh năm 1980. Đều trú tại: xóm D - xã N - huyện Q - tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Vi Thị L, sinh năm 1964. Có đơn xin xử vắng mặt.
Trú tại: Bản Đ, xã C, huyện Q, Nghệ An.
Anh Lê Minh L1, sinh năm 1987 (vắng mặt lần 2)
Trú tại: K, thị trấn Q, Q, Nghệ An
Ông Trần Nhật M. Chức vụ: Chủ tịch UBND xã C, huyện Q (vắng mặt lần 2).
Bà Trần Thị N. Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q. Vắng mặt lần 2.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Vi Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào tháng 2 năm 2022, Vi Thị H có vay của vợ chồng anh Cảnh Văn T1 và chị Hồ Thị Thành V số tiền 240.000.000đ. Đến hạn trả nợ nhưng không có khả năng trả nên H nảy ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để tiếp vay tiền của gia đình anh T1 và chị V. Tháng 3 năm 2022, H lên trang facebook và liên hệ với một tài khoản để làm hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với giá 6.000.000đ. H đã chụp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của bà Vi Thị L (mẹ đẻ của H) có số seri BQ 318502 được UBND huyện Q cấp ngày 19/01/2016 và gửi cho tài khoản facebook này. Khoảng vài ngày sau, H nhận 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Vi Thị L do người giao hàng giao cho H, H đưa cho người này số tiền 6.000.000đ. Sau khi có 02 giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất giả, H đến nhà chị V và anh T1 đặt vấn đề thế chấp 01 giấy CNQSDĐ của bà Vi Thị L để vay thêm số tiền 180.000.000đ. Vợ chồng chị V yêu cầu nếu giấy CNQSD đất của bà Vi Thị L thì phải có xác nhận của bà Vi Thị L và chính quyền xã C thì mới cho vay tiếp. Ngày 25/3/2022, H sử dụng một giấy CNQSDĐ giả mà H đã đặt làm nêu trên đưa cho anh T1 và chị V thế chấp để lấy số tiền 180.000.000đ. Quá trình thế chấp, để chị V tin tưởng, H đã viết cho chị V một giấy vay tiền, đồng thời điểm chỉ và giả chữ ký của bà Vi Thị L, đồng thời giả chữ ký của ông Trần Nhật M chủ tịch UBND xã C xác nhận vào phía sau giấy vay tiền này. Sau đó lợi dụng mình là công chức Văn phòng đảng uỷ xã C nên H đã lấy con dấu của UBND xã C lên chữ ký của ông Trần Nhật M. Ngày 21/02/2023, do nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà H thế chấp là giả nên anh T1 đã đưa giấy chứng nhận QSDĐ này đến chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai để kiểm tra thì được trả lời là giấy chứng nhận QSDĐ giả. Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện Q đã tạm giữ giấy CNQSDĐ này để xác minh theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/3/2023, anh Lê Minh L1, sinh năm 1987, trú tại khối A, thị trấn Q đến hỏi mua thửa đất của bà Vi Thị L thì H đứng ra trao đổi nội dung mua bán. Sau đó H đã đưa 01 giấy chứng nhận QSDĐ giả cho anh L1 xem và nói bán thửa đất này với giá 1.600.000.000đ. Sau đó H đưa giấy chứng nhận QSDĐ này cho anh L1 về xem và nghiên cứu giá cả. Ngày 17/3/2023, anh L1 đưa giấy chứng nhận QSDĐ đến văn phòng đăng ký đất đai huyện Q để kiểm tra nguồn gốc thì được trả lời là giấy giả. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q đã tạm giữ giấy chứng nhận đất này để xác minh theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/10/2023, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Q có thông báo về việc phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và trình báo sự việc đến Cơ quan Công an huyện Q.
Tại bản kết luận giám định số 403/KL – KLHS ngày 01/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chữ ký mang tên Vy Thanh T2 dưới mục “chủ tịch” trên “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BQ
2
318502 đề ngày 19/01/2016 ký hiệu A so với chữ ký của ông Vy Thanh T2 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một người ký ra.
Hình dấu tròn có nội dung “Ủy ban nhân dân huyện Q t. Nghệ An” dưới mục “chủ tịch” trên “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BQ 318502 đề ngày 19/01/2016 ký hiệu A so với hình dấu tròn có nội dung “ủy ban nhân dân huyện Q t Nghệ An” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Phôi “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BQ 318502 đề ngày 19/01/2016 ký hiệu A là giả.
Tại bản kết luận giám định số 78/KL – KTHS (Đ3 - TL), ngày 21 tháng 3 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chữ ký mang tên Vy Thanh T2 dưới mục “chủ tịch” trên “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BQ 318502 đề ngày 19/01/2016 ký hiệu A so với chữ ký của ông Vy Thanh T2 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một người ký ra.
Hình dấu tròn có nội dung “Ủy ban nhân dân huyện Q t. Nghệ An” dưới mục “chủ tịch” trên “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BQ 318502 đề ngày 19/01/2016 ký hiệu A so với hình dấu tròn có nội dung “ủy ban nhân dân huyện Q tỉnh Nghệ An” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Hình dấu tròn dưới mục “TM. UBND xã” trên “Giấy vay tiền” ký hiệu A so với hình dấu tròn trên “giấy vay tiền” ký hiệu A so với hình dấu tròn trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 (mẫu so sánh là hình dấu của UBND xã C) là do cùng một con dấu đóng ra.
Tại bản kết luận giám định số 76/KL – KTHS (Đ3 - TL), ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chữ ký mang tên Trần Nhật M dưới mục “T.M UBND Xã” trên “giấy vay tiền” ký hiệu A so với chữ ký của Trần Nhật M trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 không phải do cùng một người ký ra.
Tại thời điểm H sử dụng con dấu của UBND xã C vào chữ ký giả của ông Trần Nhật M thì H đang là công chức Văn phòng thống kê làm công tác văn phòng đảng uỷ xã C. Nhiệm vụ của H được quy định trong quyết định phân công nhiệm vụ cho công chức, người hoạt động không chuyên trách của UBND xã Châu Đình số 07/QĐ – UBND ngày 19/01/2022 của UBND xã C nhưng H không có nhiệm vụ “thực hiện cấp bản sao từ bản gốc, chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt, chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt, chứng thực các việc khác theo quy định của pháp luật”, không có nhiệm vụ giữ, bảo quản con dấu mà chức năng, nhiệm vụ này được giao cho ông Nguyễn Văn Đ, công chức Tư pháp, hộ tịch UBND xã C.
Cáo trạng số 77/VKS-HS ngày 29 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp đã truy tố Vi Thị H về các tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 điều 341 BLHS; tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định khoản 2 Điều 341 BLHS; tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 174 của Bộ luật Hình sự.
3
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Quỳ Hợp giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt đối với bị cáo như sau: áp dụng khoản 1 điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt Vi Thị H từ 06 tháng đến 09 tháng tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; áp dụng điểm d khoản 2 điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 2 năm 03 tháng đối với tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; áp dụng điểm c khoản 2 điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 2 năm 06 tháng đối với tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Vi Thị H phải chấp hành cho cả ba tội từ 04 năm 09 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
Về dân sự: Buộc bị cáo Vi Thị H phải hoàn trả cho chị Hồ Thị Thành V và anh Cảnh Văn T1 số tiền 57.000.000đ (năm mươi bảy triệu đồng).
Vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng người bị hại chị V1 có đơn trình bày: Vi Thị H đã thế chấp một giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất giả để vay của chị số tiền 180.000.000đ, quá trình điều tra và chờ xét xử, H đã khắc phục trả lại cho gia đình chị số tiền 123.000.000đ (một trăm hai mươi ba triệu đồng), số tiền còn lại chị V yêu cầu Vi Thị H phải trả hết cho chị V.
Đối với những người có quyền lợi liên quan gồm ông Trần Nhật M, bà Trần Thị N, ông Lê Minh L1 vắng mặt tại phiên toà nhưng tại các bản khai không có yêu cầu gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm bị cáo để làm gương cho những người khác.
Đối với bà Vi Thị L, mẹ đẻ bị cáo. Bà L cho rằng việc H sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà sau đó đi làm giấy CNQSD đất giả thì bà L không biết, bà L đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho H.
Về vật chứng: 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Vi Thị L và 01 giấy vay tiền đề ngày 25/3/2022 là tài liệu chứng minh cho hành vi phạm tội của H cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vi Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng quy kết.
4
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được do cần tiền để giải quyết công việc và đang nợ một số tiền lớn mà không biết vay mượn của ai nên Vi Thị H đã nảy sinh ý định sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để cầm cố vay tiền. Ngày 25/3/2022, Vi Thị H sử dụng 01 giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất giả do H tự đặt làm qua mạng mang tên Vi Thị L có số sê ri BQ318502, số vào sổ H0001, mã vạch 16673.16.46174 được UBND huyện Q cấp ngày 19/01/2016 và một giấy vay tiền, có chữ ký, xác nhận giả, đóng dấu thật của UBND xã C nhằm tạo lòng tin đối với chị Hồ Thị Thành V, anh Cảnh Văn T1 để vay số tiền 180.000.000đ. Hành vi của bị cáo là dùng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo tài sản của người khác. Bị cáo đã đặt trên mạng xã hội làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó sử dụng một giấy để vay tiền của người khác. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào các tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức” quy định khoản 1 điều 341 Bộ luật Hình sự; tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 điều 341 BLHS; tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 điều 174 của BLHS.
Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường phần lớn hậu quả cho người bị hại, quá trình công tác bị cáo được tặng thưởng nhiều thành tích trong nhiều năm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: 02 chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Vi Thị L là giấy giả được lưu trong hồ sơ vụ án. 01 giấy vay tiền đề ngày 25/3/2022 có xác nhận của chủ tịch UBND xã C cũng là giả được lưu trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy bị cáo Vi Thị Hồng P nhiều tội, có những tội bị cáo làm ảnh hưởng uy tín cơ quan tổ chức và cá nhân. Gây tâm lý lo lắng cho nhân dân, gây dư luận xấu, bản thân bị cáo từng là đảng viên, bị cáo phải ý thức được việc làm của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng nhưng bị cáo bất chấp phạm tội vì vậy cần phải lên cho bị cáo một mức án tương xứng để giáo dục phòng ngừa riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho hoàn cảnh của bị cáo đang nuôi con nhỏ, kinh tế khó khăn nên giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo để thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Về mặt dân sự: Quá trình giải quyết vụ án người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 180.000.000đ, trong quá trình truy tố và trước khi xét xử, bị cáo đã khắc phục được 123.000.000 đồng, số tiền còn lại người bị hại yêu cầu bị cáo phải trả tiếp cho anh Cảnh Văn T1 và chị Hồ Thị Thành V.
Đối với người làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vi Thị H cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Q đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được người này.
5
Đối với bà Vi Thị L là mẹ đẻ của Vi Thị H cũng là người được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất số 113, tờ bản đồ số 50, địa chỉ Bản Điểm, xã C, huyện Q. Quá trình điều tra xác định bà L không biết việc H làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị V, anh T1 vì vậy bà L không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với anh Lê Minh L1 thì H mới đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho anh L1 xem chứ chưa thực hiện giao dịch gì vì vậy hành vi này chưa cấu thành tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Đối với ông Trần Nhật M, chủ tịch UBND xã C, H đã mạo danh chữ ký của ông M nhưng ông M không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vi Thị Hồng P các tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm d khoản 2 điều 341; điểm c khoản 2 điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Vi Thị H:
06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức”;
02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
02 (hai năm) 02 (hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điều 55 của BLHS buộc bị cáo Vi Thị H phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba tội là 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về dân sự: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự: Buộc Vi Thị H trả tiếp cho anh Cảnh Văn T1 và chị Hồ Thị Thành V số tiền 57.000.000đ (năm mươi bảy triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất chậm trả đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại điều 357 BLDS năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự;
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/QH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vi Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.850.000đ (hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí DSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Quang Sơn |
7
Bản án số 82/2021/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN về hình sự (làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 82/2021/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử công khai sơ thẩm
