TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/11/2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Bùi Thế Hanh
- 2/ Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc-Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 276/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXX ST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 - Có mặt.
Nơi thường trú: Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Tạ Văn N, sinh năm 1982 - Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Nơi thường trú: Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 15/8/2023; bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị H trình bày: Chị và anh Tạ Văn N đăng ký kết hôn tại trụ sở Ủy Ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang ngày 21/6/2002. Trước khi kết hôn tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận kết hôn. Sau khi kết hôn chị về nhà anh N chung sống ngay, ở cùng gia đình anh N. Vợ chồng sống hạnh phúc đên đầu năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Tạ Văn N đã có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị đã nhiều lần khuyên can và cho cơ hội nhưng anh N không sửa chữa. Chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 8/2023 đến nay. Khi chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở thì anh N có nhắn tin gọi chị về nhưng chị không đồng ý vợ chồng đoàn tụ. Vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 8/2023 đến nay, hiện tại vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tạ Văn N.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có ba con chung là: Tạ Hương L, sinh ngày 31/10/2003; Tạ Thị N1, sinh ngày 13/01/2006; Tạ Minh N2, sinh ngày 10/12/2012.
Hiện nay cháu L đã trưởng thành và có gia đình riêng, cháu N1 và cháu N2 hiện đang ở với anh N. Ly hôn chị đề nghị mỗi vợ chồng nuôi một con, chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung Tạ Thị N1, để anh N nuôi cháu Tạ Nhật M.
Về cấp dưỡng nuôi con chung mỗi người nuôi một con, do vậy chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất và các quan hệ khác: Chị xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Tạ Văn N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trình bày: Anh và chị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang ngày 21/02/2002 là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn chị H về nhà anh làm dâu ngay, vợ chồng chung sống cùng gia đình anh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H có nghi ngờ anh quan hệ tình cảm với người phụ nữa khác, đến tháng 8/2023 thì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chị H bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 8/2023 đến nay. Sau khi chị H bỏ về nhà mẹ đẻ ở anh không xuống đón cũng không nói chuyện với bố mẹ chị H vì anh xác định chị H tự đi thì tự về. Khi chị H đi thì anh không đánh đuổi gì nên chị H thích về lúc nào thì về. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Chị H xin ly hôn anh không đồng ý. Anh muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Hiện nay anh cũng không có phương án nào để vợ chồng về đoàn tụ. Nếu chị H kiên quyết xin ly hôn thì chị H cứ ly hôn đơn phương vì anh không đánh, không bỏ. Chị H về cũng được mà không về cũng được.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 03 con chung là Tạ Hương L, sinh ngày 31/10/2003; Tạ Thị N1, sinh ngày 13/01/2006; Tạ Minh N2, sinh ngày 10/12/2012. Hiện nay cháu Tạ Hương L đã trưởng thành và có gia đình riêng, vợ chồng anh ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với cháu L. Còn đối với cháu Tạ Thị N1 và cháu Tạ Minh N2 hiện đang ở với anh. Nếu vợ chồng ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung Tạ Minh N2. Đối với cháu Tạ Thị N1 muốn ở với ai anh cũng đồng ý. Anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, nhà ở, quyền sử dụng đất và các vấn đề khác: Anh xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Tạ Văn N.
- - Về con chung:
- +) Giao cháu Tạ Thị N1, sinh ngày 13/01/2006 cho chị Nguyễn Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng.
- +) Giao cháu Tạ Minh N2, sinh ngày 10/12/2012 cho anh Tạ Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét đến khi đương sự có yêu cầu.
Chị Nguyễn Thị H, anh Tạ Văn N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở chị H, anh N thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Xét đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Anh Tạ Văn N có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang, do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo quy định khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Tạ Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt anh N là có căn cứ.
[2].Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H và anh N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị H và anh N đều xác định trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do chị H nghi ngờ anh N có quan hệ tình cảm với người phụ nữa khác nên vợ chồng thường to tiếng cãi chửi nhau. Chị H xác định tình cảm vợ chồng đến nay đã không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Tạ Văn N. Anh N thì cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, theo lời trình bày của chị H, anh N thì vợ chông mâu thuẫn từ đầu năm 2023, đến tháng 8 năm 2023 chị H mới bỏ về nhà mẹ đẻ ở đến nay anh N không xuống đón chị H về, anh N cũng không có phương án nào để vợ chồng về đoàn tụ. Anh N xác định không đánh, không đuổi chị H về nên chị H tự đi thì tự về. Chị H muốn về thì về không muốn về cũng được. Điều này chứng tỏ mâu muẫn vợ chồng giữa chị H và anh N đã trầm trọng, đời sống chung hôn nhân không thể kéo dài. Hơn nữa anh N không đồng ý ly hôn chỉ nhằm mục đích kéo dài tình trạng hôn nhân không hạnh phúc. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần xử cho chị H được ly hôn anh N theo quy định tại Điều 56 – Luật Hôn nhân và gia đình là có căn cứ.
[3]. Về con chung: Chị H và anh N cùng xác định vợ chồng có 03 con chung là Tạ Hương L, sinh ngày 31/10/2003; Tạ Thị N1, sinh ngày 13/01/2006; Tạ Minh N2, sinh ngày 10/12/2012.
Hiện nay cả chị H, anh N đều xác định cháu L đã trưởng thành và có gia đình riêng, còn cháu N1 và cháu N2 đang ở với anh N.
Ly hôn, chị H, anh N đều xác định để anh N nuôi cháu N2, còn cháu N1 chị H nuôi dưỡng. Để đảm bảo việc học hành, sinh sống ổn định của các cháu và tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên cùng nuôi con, nên cần giao cháu N2 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu N1 cho chị H nuôi dưỡng sau ly hôn là đảm bảo cuộc sống của 02 cháu và phù hợp với các Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Sau khi ly hôn chị H, anh N được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở chị H, anh N thực hiện quyền này theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 82 ; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
[5]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất, ruộng đất và các quan hệ khác: Chị H và anh N cùng xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.
[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H không thuộc đối tượng được miễm, giảm án phí theo quy định do vậy căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[7]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân, chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh N vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Tạ Văn N.
- - Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Tạ Thị N1, sinh ngày 13/01/2006; Giao cho anh Tạ Văn N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Tạ Minh N2, sinh ngày 10/12/2012.
Chị H, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau cho đến khi có yêu cầu.
Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H và anh Tạ Văn N có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở chị H và anh N thực hiện quyền này.
Trong trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc cá nhân, tổ chức được quy định khoản 5 Điều 84 – Luật Hôn nhân gia đinh năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000256 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Xác định chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 82/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 82/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hòa - Nguyễn Văn Ngọc ly hôn
