Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.

Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Hồ Bân .
  • + Ông Trương Văn Hà.
  • + Ông Nguyễn Thành Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lương Thanh Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Đ (tên thường gọi: P), sinh ngày 12 tháng 12 năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 2/2; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê N và con bà Hà Thị L; vợ: Nguyễn Ngọc C (đã ly hôn); con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/11/2005, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số: 1640/2005/HSST, bị cáo chấp hành xong ngày 19/10/2007.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Đ có cha, mẹ đẻ là: Ông Lê N, sinh năm 1948 (vắng mặt) và bà Hà Thị L, sinh năm 1953 (có mặt); nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Lê Đ: Luật sư Trần Quang H – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số B, đường L, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lê Thanh Ơ, sinh năm 1984; nơi cư trú: Xóm E, thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn P1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Xóm E, thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  • + Anh Lê Q, sinh năm 1993; nơi cư trú: Xóm E, thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Anh Phạm H1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn K, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 05/3/2023, bị cáo Lê Đức n uống bia cùng với anh Phạm H1, anh Lê Thanh Ơ và anh Lê Q tại nhà của anh Ơ ở thôn H, xã N, huyện T. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo Đ, anh Ơ, anh Q và anh H1 cùng chuyển đến nhà bị cáo Đ tiếp tục uống bia (nhà bị cáo Đ gần nhà anh Ơ). Trong lúc ăn uống, anh Ơ có nói đùa với bị cáo Đ: “Mỗi lần mày về, mày dẫn một đứa khác nhau, đợt này con này già, xấu quá”, thì bị cáo Đ khó chịu, nên giữa anh Ơ và bị cáo Đ xảy ra cải vã. Nghe cải vã, nên ông Lê N (cha bị cáo Đ) không cho cả nhóm ăn uống nữa và nói cả nhóm đi về. Khi nghe ông N nói vậy thì anh H1, anh Q và anh Ơ nghỉ không uống bia nữa, đi ra ngoài sân lên xe mô tô chuẩn bị về. Lúc này, bị cáo Đ cầm 01 cái kéo từ trong nhà chạy ra đến vị trí của anh H1, anh Q và anh Ơ thì anh H1 giật cây kéo ra khỏi tay bị cáo Đ. Liền lúc đó, bị cáo Đ dùng tay phải tát vào mặt anh Ơ một cái, làm anh Ơ ngã vào hàng rào, tiếp theo bị cáo Đ lao đến ôm vật đánh nhau với anh Ơ tại khu vực trước nhà anh Lê Văn P1 (ở sát nhà và là em ruột của bị cáo Đ). Cùng lúc, anh Lê Văn P1 vừa đi thả lưới về nghe ồn ào nên chạy về xem. Khi thấy anh P1 về, thì anh Phạm H1 nói: “Mày bước vô đây, tao cấm đường mua bán bánh bao của mày luôn”, thì anh P1 nói lại: “Nhà nước chưa cấm, mà sao mày cấm đường mua bán bánh bao của tao”. Sau đó, anh P1 và anh H1 có nói qua nói lại vài câu rồi anh P1 đi về nhà, vào bếp lấy 01 con dao (dài 33,4cm, cán dao dài 11,8cm bằng nhựa màu đen, lưỡi dao bằng kim loại dài 21,6cm) quay lại nhà ông N. Khi thấy anh H1 vừa đi ra khỏi nhà ông N, thì anh P1 cầm dao đuổi theo anh H1 thì anh H1 bỏ chạy thoát và gọi điện báo cho Công an xã N.

Ông Lê N ở trong nhà, nghe ồn ào ở trước nhà, nên đi ra xem tình hình và can ngăn bị cáo Đ và anh Ơ đánh nhau thì bị té xỉu trước sân nhà. Thấy vậy, bà Hà Thị L chạy từ trong nhà ra cùng với bị cáo Đ và anh Q đỡ ông N vào trong nhà và xoa bóp cho ông. Một lát sau, ông N tỉnh lại thì bị cáo Đ đứng dậy, đi đến bên hông nhà, lấy 01 con dao (dài 21,8cm, cán dao dài 10cm bằng nhựa màu xanh, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,8cm) mà bà L dùng để xắt rau cho gà và chạy ra tìm anh Ơ. Khi nhìn thấy Ơ đang đứng trước cổng nhà anh Lê Văn P1, thì bị cáo Đ chạy tới cầm dao bằng tay phải, chém nhiều nhát vào người anh Ơ trúng vào vùng cổ, ngực, vai, tay của anh Ơ gây thương tích. Tiếp đó, bị cáo Đ nắm cổ áo anh Ơ kéo đến bậc tam cấp nhà anh P1 và dùng dao đâm mạnh một nhát vào vùng bụng anh Ơ làm Ơ bị thủng bụng, lòi ruột ra ngoài. Sau khi bị đâm, anh Ơ vùng thoát ra và bỏ chạy đến nhà anh Lê Thanh H2 và được anh H2 chở đến Bệnh viện để cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 263/KLTTCT-TTPY, ngày 19/4/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q kết luận thương tích của anh Lê Thanh Ơ, như sau:

  • + 01 sẹo kích thước lớn vùng cổ ngực, từ đầu dưới cơ ức đòn chủm bên trái chạy ngang qua hõm ức đến đầu trong xương đòn phải: 03%.
  • + 01 sẹo kích thước lớn vùng ngực, từ cung trước xương sườn IIII bên phải chạy ngang qua xương ức và lên trên đến cung trước xương sườn II bên trái: 03%.
  • + 01 sẹo kích thước lớn vùng vai ngực, ngang qua trước trên hõm nách phải xuống đến mặt trước ngoài đoạn 1/3 trên cánh tay phải gây đứt gân cơ nhị đầu, cơ delta đã được phẫu thuật khâu nối gân, khâu cơ delta tạm ổn. Vận động xoay dạng, giơ cao cánh tay phải và gấp, duỗi khớp khuỷu phải được bình thường: 04%.
  • + 01 sẹo kích thước lớn ngang qua mặt trước đoạn 1/3 giữa cánh tay bên trái: 03%.
  • + 01 sẹo kích thước nhỏ vùng bụng bên trái cách dưới rốn 0,5cm, cách đường giữa về bên trái 2cm: 01%; Thủng 02 lỗ trên ruột non đã được phẫu thuật khâu lỗ thủng ruột non: 30%; Đứt thanh mạc đại tràng: 03%.
  • + 01 sẹo kích thước lớn vùng bụng, dọc đường giữa trên dưới rốn: 03%.
  • + 01 sẹo kích thước nhỏ vùng hố chậu trái: 01%.
  • + 01 sẹo kích thước nhỏ mặt trong đốt 1 ngón V bàn tay trái: 01%.

Những tổn thương trên đều do vật sắc cạnh gây nên.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y. giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Thanh Ơ tại thời điểm giám định là: 44% (Bốn mươi bốn phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Bản kết luận giám định số 749/KL-KTHS, ngày 27/4/2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng, kết luận như sau: Trên 02 con dao gửi giám định có máu của anh Lê Thanh Ơ.

- Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 709/KLGĐ ngày 26/4/2024 của Trung tâm P2, kết luận giám định tâm thần đối với Lê Đ, như sau:

  • + Trước thời điểm gây án:
    • Kết luận về y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng, nhân cách (G40).
    • Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
  • + Tại thời điểm gây án (05/3/2023):
    • Kết luận về y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng, nhân cách (G40).
    • Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
  • + Thời điểm hiện tại:
    • Kết luận về y học: Động kinh cơn lớn có biến đổi trí năng, nhân cách (G40).
    • Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại Bản cáo trạng số: 69/CT-VKSQNG-P1 ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lê Đ phạm tội “Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Đ phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Đức m án từ 09 (C) đến 10 (M) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng, đồ vật thu giữ trong vụ án, vì là công cụ phạm tội và không có giá trị sử dụng.

Luận cứ của Luật sư Trần Quang H bào chữa cho bị cáo Lê Đức :

- Về tội danh: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Đ phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 20.000.000đồng; bị cáo bị bệnh động kinh, hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi; có ông, bà ngoại, mẹ đẻ là người có công cách mạng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo.

Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và phạm tội chưa đạt nên đề nghị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 và khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và xử phạt mức án thấp nhất cho bị cáo.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo thống nhất lời bào chữa của người bào chữa. Ngoài ra, bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì thêm.

Ý kiến của bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.3] Tại phiên tòa, ông Lê N, anh Lê Q và anh Phạm H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án và việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những này.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố và được tóm tắt như nội dung vụ án nêu trên. Bị cáo thống nhất với các bản kết luận giám định. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Lê Đ và anh Lê Thanh Ơi 1 bà con với nhau (bị cáo Đ gọi anh Ơi là anh con ông bác ruột). Tối ngày 05/3/2023, trong lúc ngồi uống bia tại nhà cha, mẹ của bị cáo Lê Đ ở thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi thì giữa bị cáo Lê Đ và Lê Thanh Ơ nảy sinh mâu thuẫn, cải vã với nhau. Mặc dù, bị cáo và anh Ơ chỉ xảy ra mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng bị cáo Lê Đ đã có hành vi dùng 01 con dao (01 (một) cao dao dài 21,8cm, cán dao dài 10cm bằng nhựa màu xanh, trên có chữ “ĐA SỸ”; lưỡi dao bằng kim loại dài 11,8cm; phần rộng nhất của lưỡi là 3,1cm, mũi dao bằng) chém nhiều nhát vào người anh Lê Thanh Ơ trúng vào vùng cổ, ngực, vai, tay của anh Ơ gây thương tích và dùng dao đâm mạnh một nhát vào vùng bụng của anh Ơ làm bị thủng bụng; hậu quả anh Ơ bị nhiều vết thương trên cơ thể dẫn đến thương tích 44% (Bốn mươi bốn phần trăm).

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Tại thời điểm gây án, bị cáo là người hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi nhưng có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc ăn uống, bị cáo đã sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát vào vùng cổ, ngực, vai, tay và đâm 01 nhát vào vùng bụng của bị hại, khiến bị hại bị thủng 02 lỗ trên ruột non, đứt thanh mạc đại tràng, lòi ruột ra ngoài và nhiều vết thương khác trên cơ thể. Bị cáo nhận thức được việc dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng cổ, ngực; đâm vào vùng bụng là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại có khả năng dẫn đến chết người nhưng bị cáo vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi, hậu quả chết người chưa xảy ra là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, do bị hại vùng thoát ra và bỏ chạy. Hành vi của bị cáo mang tính chất côn đồ.

Hành vi của bị cáo Lê Đức n1 trên đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người" thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố đối với bị cáo Lê Đức n1 nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.3] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[2.4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Tại thời điểm gây án bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông, bà ngoại, mẹ đẻ đều là người có công cách mạng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt.

[2.5] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo đã từng bị kết án 03 năm tù nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với tính chất, mức độ nguy hiểm hơn cho xã hội, điều này chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, hành vi bị cáo thực hiện chưa xảy ra hậu quả chết người là thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng mức hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[2.6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại Lê Thanh Ơ, số tiền 20.000.000đồng. Anh Lê Thanh Ơ không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.7] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng là phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội và một số vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu, tiêu hủy, gồm:

  • - 01 (một) con dao dài 21,5cm; cán dao dài 10cm bằng nhựa màu vàng, trên có chữ “JINLI"; lưỡi dao bằng kim loại trắng sáng dài 11,5cm; phần rộng nhất của lưỡi 1,8cm, trên có chữ “JINLI-BRAND" và "STAINLESS STEEL", mũi dao nhọn;
  • - 01 (một) cao dao dài 21,8cm, cán dao dài 10cm bằng nhựa màu xanh, trên có chữ “ĐA SỸ”; lưỡi dao bằng kim loại dài 11,8cm; phần rộng nhất của lưỡi là 3,1cm, mũi dao bằng;
  • Phần còn lại mẫu tóc thu của Lê Thanh Ơ;
  • (Hai con dao và mẫu tóc nêu trên được đựng bên trong 01 (một) phong bì niêm phong có dấu của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và có chữ ký của thành phần tham gia).
  • - 01 (một) cán cây kéo bằng nhựa màu đỏ có kích thước (7,5 x 3,2 x 0,9)cm, đã được niêm phong.
  • - 01 (một) cây kéo dài 20,4cm; phần cán dài 7,5cm được làm bằng nhựa màu đỏ, một cán kéo sức rời không còn; phần lưỡi kéo dài 12,9cm được làm bằng kim loại, đã được niêm phong.
  • - 01 (một) con dao dài 33,4cm, cán dao dài 11,8cm bằng nhựa màu đen, trên có chữ “KIWI”; lưỡi dao bằng kim loại dài 21,6cm; phần rộng nhất của lưỡi là 3,2cm, mũi dao nhọn, đã được niêm phong.
  • - 01 (một) cái áo thun loại cụt tay (áo ba lỗ), đã được niêm phong.

[2.8] Đối với Lê Văn P1: Quá trình điều tra xác định Lê Văn P1 có hành vi sử dụng một con dao đuổi theo anh Phạm H1. Tuy nhiên, đây chỉ là hành vi bộc phát của anh P1 khi xảy ra cãi vả với anh H1; giữa anh P1 và bị cáo Lê Đ không bàn bạc với nhau về việc sẽ dùng hung khí tấn công nhóm của anh Ơ. Khi bị cáo Lê Đức g thương tích cho anh Ơ thì anh P1 không có mặt tại hiện trường, hành vi của anh P1 không gây ra hậu quả. Tuy nhiên, hành vi sử dụng dao đuổi theo anh Phạm H1 của anh Lê Văn P1 có dấu hiệu vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền là có căn cứ.

[2.9] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[2.10] Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[2.11] Về án phí: Bị cáo Lê Đức p chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

VÌ CÁC LẼ TRÊN;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đ phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Lê Đức 0 (T) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/01/2024).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng, đồ vật sau đây:

  • - 01 (một) con dao dài 21,5cm; cán dao dài 10cm bằng nhựa màu vàng, trên có chữ “JINLI"; lưỡi dao bằng kim loại trắng sáng dài 11,5cm; phần rộng nhất của lưỡi 1,8cm, trên có chữ “JINLI-BRAND" và "STAINLESS STEEL", mũi dao nhọn;
  • - 01 (một) cao dao dài 21,8cm, cán dao dài 10cm bằng nhựa màu xanh, trên có chữ “ĐA SỸ”; lưỡi dao bằng kim loại dài 11,8cm; phần rộng nhất của lưỡi là 3,1cm, mũi dao bằng;
  • Phần còn lại mẫu tóc thu của Lê Thanh Ơ.
  • (Hai con dao và mẫu tóc nêu trên được đựng bên trong 01 (một) phong bì niêm phong có dấu của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và có chữ ký của thành phần tham gia).
  • - 01 (một) cán cây kéo bằng nhựa màu đỏ có kích thước (7,5 x 3,2 x 0,9)cm, đã được niêm phong.
  • - 01 (một) cây kéo dài 20,4cm; phần cán dài 7,5cm được làm bằng nhựa màu đỏ, một cán kéo sức rời không còn; phần lưỡi kéo dài 12,9cm được làm bằng kim loại, đã được niêm phong.
  • - 01 (một) con dao dài 33,4cm, cán dao dài 11,8cm bằng nhựa màu đen, trên có chữ “KIWI”; lưỡi dao bằng kim loại dài 21,6cm; phần rộng nhất của lưỡi là 3,2cm, mũi dao nhọn, đã được niêm phong.
  • - 01 (một) cái áo thun loại cụt tay (áo ba lỗ), đã được niêm phong.
  • (Theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Đức p chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện theo pháp luật cho bị cáo, người bào chữa; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ông Lê N, đại diện theo pháp luật cho bị cáo, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Trại tạm giam – Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - PC01 - Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về giết người (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger