|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày: 28- 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Hằng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Vũ Trung Thành |
| 2. Ông Nguyễn Viết Xứng |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh - Kiểm sát viên
Ngày 28/8/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 30/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 76/2024/QĐXXST-HS ngày 14/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Đức H, sinh năm 1993 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Đ, ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thành N, sinh năm 1958 (Đã chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ tên Trương Thị T, sinh năm 1991; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Ngày 04/6/2022, bị Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 1 năm 3 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Đ, ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1971 và bà Đặng Thị N1, sinh năm 1972; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 2001; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án: Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 15/01/2020, bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 1 năm 3 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Lê Đức H1, sinh năm 1997 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, Lê Đức H, sinh năm 1993, đang ở nhà tại đội D, ấp C, xã Đ, huyện Đ thì Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001, sang nhà chơi. Do muốn có ma túy để sử dụng, Hiệu mượn điện thoại của Đ liên hệ với C1 (không rõ lai lịch) mua 200.000₫ ma túy đá. Sau đó, H nói với Đ đến Nhà văn hóa ấp E, xã Đ, huyện Đ gặp C1 đem ma túy về cùng nhau sử dụng thì Đ đồng ý. Đ mượn xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của T2 (không rõ lai lịch) đến Nhà văn hóa thì C1 đưa cho Đ 01 gói nylon có túi khóa dạng miết, bên trong chứa ma túy đá rồi Đ điều khiển xe mô tô quay lại nhà của H, trả xe mô tô cho T2, cầm ma túy đi vào phòng ngủ của H. Tại đây, H đã chuẩn bị sẵn bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, Đ lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi cùng H sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra hành chính nhà bà Trần Thị C, sinh năm 1957, thì trong nhà có Lê Đức H1, sinh năm 1997, kiểm tra tại phòng ngủ có Đ và H cùng 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong ống thủy tinh còn chất rắn bám dính. Qua làm việc, H và Đ khai nhận hành vi của mình nên Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H, Đ và niêm phong số ma túy trên để lập hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật.
Theo Kết luận giám định số 255 ngày 28/02/2024, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chất màu nâu - trắng (ký hiệu M) bên trong phần bầu tròn ống thủy tinh uốn cong được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,0645 gam.
Tại Bản cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 29/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Lê Đức H, Nguyễn Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Đức H, Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Đức H mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa trong suốt, có nắp màu trắng, trên nắp chai có khoét hai lỗ hình tròn, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh cong phình to một đầu bên trong ống thủy tinh có chất rắn bám dính); 01 bật lửa và 01 túi niêm phong ống thủy tinh, bên ngoài dán giấy niêm phong có chữ ký, ghi họ tên của các thành phần tham gia và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh B
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động hãng X, hiệu Redmi 9T màu xanh dương.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, các bị cáo không tranh luận, không kêu oan.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, lời khai của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đầy đủ căn cứ khách quan để xác định:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, Lê Đức H, sinh năm 1993, đang ở nhà tại đội D, ấp C, xã Đ, huyện Đ thì Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001, sang nhà chơi. Do muốn có ma túy để sử dụng, Hiệu mượn điện thoại của Đ liên hệ với C1 (không rõ lai lịch) mua 200.000₫ ma túy đá. Sau đó, H nói với Đ đến Nhà văn hóa ấp E, xã Đ, huyện Đ gặp C1 đem ma túy về cùng nhau sử dụng thì Đ đồng ý. Đ mượn xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của T2 (không rõ lai lịch) đến Nhà văn hóa thì C1 đưa cho Đ 01 gói nylon có túi khóa dạng miết, bên trong chứa ma túy đá rồi Đ điều khiển xe mô tô quay lại nhà của H, trả xe mô tô cho T2, cầm ma túy đi vào phòng ngủ của H. Tại đây, H đã chuẩn bị sẵn bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, Đ lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi cùng H sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra hành chính, kiểm tra tại phòng ngủ có Đ và H cùng 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong ống thủy tinh còn chất rắn bám dính.
Theo Kết luận giám định số 255 ngày 28/02/2024, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chất màu nâu - trắng (ký hiệu M) bên trong phần bầu tròn ống thủy tinh uốn cong được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,0645 gam.
Do các bị cáo đã cùng chuẩn bị địa điểm, dụng cụ sử dụng để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của các bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 22/02/2024 của bị cáo H và Đ, Công an huyện Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với C1 là người bán ma túy cho bị can Hiệu: Cơ quan Công an chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên khi nào xác minh được sẽ xem xét, xử lý sau.
[3] Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn, tội phạm khác trong xã hội. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng cần phân tích, đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án để phân hoá trách nhiệm hình sự phù hợp.
Trong vụ án, hành vi của bị cáo H giữ vai trò chính, là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Đ sử dụng ma tuý đồng thời là người cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng và địa điểm sử dụng ma tuỷ; đối với bị cáo Đ sau khi được bị cáo H rủ thì bị cáo Đ đã tiếp nhận ý chí và đồng ý, bị cáo là người trực tiếp đi lấy ma tuý và cho ma tuý vào dụng cụ sử dụng nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn so với bị cáo Đ.
[4] Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo H: Ngày 04/6/2022, bị cáo H bị Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 1 năm 3 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo chưa được xoá án tích, do đó bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Đ: Bị cáo là người có nhân thân xấu; Ngày 15/01/2020, bị Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 1 năm 3 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm là hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, cải tạo được các bị cáo và mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo hiện đang bị tạm giam, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Vật chứng vụ án:
Đối với bộ D sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa trong suốt, có nắp màu trắng, trên nắp chai có khoét hai lỗ hình tròn, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh cong phình to một đầu bên trong ống thủy tinh có chất rắn bám dính); 01 bật lửa và 01 túi niêm phong ống thủy tinh, bên ngoài dán giấy niêm phong có chữ ký, ghi họ tên của các thành phần tham gia và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh B là công cụ các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động hãng X, hiệu Redmi 9T màu xanh dương là tài sản hợp pháp của bị cáo Đ, khi bị cáo H mượn điện thoại để liên lạc với C1 mục đích mua ma tuý thì bị cáo hoàn toàn không biết nên cần trả lại cho bị cáo.
[6] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà áp dụng hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất và hậu quả hành vi của các bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đức H, Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Đức H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa trong suốt, có nắp màu trắng, trên nắp chai có khoét hai lỗ hình tròn, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thủy tinh cong phình to một đầu bên trong ống thủy tinh có chất rắn bám dính); 01 (Một) bật lửa và 01 (Một) túi niêm phong ống thủy tinh, bên ngoài dán giấy niêm phong có chữ ký, ghi họ tên của các thành phần tham gia và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh B.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) điện thoại di động hãng X1, hiệu Redmi 9T màu xanh dương (điện thoại đã qua sử dụng).
- Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Lê Đức H, Nguyễn Văn Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký, đóng dấu) Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Đức H và đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
