|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 82 /2024/ST-HNGĐ Ngày 28 / 5/2024 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Việt; Bà Phạm Thị Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXX-ST, ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Kha Thị H - sinh năm 1992 - có mặt.
- Bị đơn: Anh Vi Văn T - sinh năm 1988 - vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Bản H, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Thế K - Trợ giúp viên thuộc trung tâm T2. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Kha Thị H trình bày: Chị Kha Thị H và anh Vi Văn T kết hôn với nhau vào ngày 16/9/2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2014 thì bắt đầu xẩy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, nguyên nhân do anh T thường xuyên uống rượu, không biết yêu thương và chia sẻ với vợ con. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải nhiều lần và hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống có quá nhiều mâu thuẫn, không tôn trọng lẫn nhau nên
vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vi Văn T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị H có 01 người con chung Vi Kiến H1, sinh ngày 19/5/2010. Hiện tại con đang sống cùng với chị H, nếu ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh Vi Văn T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Kha Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị H không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Vi Văn T đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Về tình cảm: Chị Kha Thị H và anh Vi Văn T đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện C trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện về kết hôn. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện cho chị Kha Thị H được ly hôn với anh Vi Văn T; Về con chung: Do hiện nay anh T không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh T nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con nên đề nghị HĐXX xem xét giao con chung cho chị Kha Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- - Về tố tụng:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Kha Thị H. Cho chị Kha Thị H được ly hôn với anh Vi Văn T và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung Vi Kiến H1,
sinh ngày 19/5/2010 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú bản Hồng Thắng, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Kha Thị H và anh Vi Văn T tại UBND xã Đ, huyện C cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị H và anh T sinh sống tại bản H, xã Đ, huyện C, vợ chồng chị H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau. Đến năm 2014 chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Hiện tại anh T không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh T không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Tại biên bản lấy lời khai bà La Thị H2 - Trú tại Bản Hồng T1, xã Đ, huyện C là mẹ đẻ của anh Vi Văn T cho biết, sau khi chị H và anh T kết hôn thì sống tại gia đình bà một thời gian rồi ra ở riêng. Đến năm 2014 anh T đi làm xa, chị H ở nhà sống không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên cãi vã do không tin tưởng nhau, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, gia đình cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, còn anh T đi làm ăn thỉnh thoảng có gọi điện về cho bà H2, còn anh T làm việc gì, địa chỉ cụ thể thì bà không biết. Bà H2 đã được nghe đọc lại nội dung biên bản lấy lời khai, công nhận lời khai là đúng nhưng không ký vào biên bản và không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án đến tống đạt cho anh T nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nơi anh T cư trú và tại trụ sở UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An theo đúng quy định pháp luật.
Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Vi Văn T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Vi Văn T theo
quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vi Văn T không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét thấy chị Kha Thị H và anh Vi Văn T có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An, việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Kha Thị H và anh Vi Văn T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2014 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị H và anh T đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh Vi Văn T vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị H và anh T xẩy ra nhiều mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh T không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh T không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Xét thấy tình cảm vợ chồng Kha Thị H và anh Vi Văn T không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn cho chị Kha Thị H được ly hôn với anh Vi Văn T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung Vi Kiến H1, sinh ngày 19/5/2010. Hiện tại đang sống cùng chị H, nếu ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh Vi Văn T phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh T không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh T nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị H là chính đáng, cháu Vi Kiến H1 có nguyện vọng sinh sống cùng với mẹ, để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Kha Thị H và anh Vi Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Kha Thị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Kha Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Kha Thị H được ly hôn với anh Vi Văn T. Chị Kha Thị H và anh Vi Văn T chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao con chung Vi Kiến H1, sinh ngày 19/5/2010 cho chị Kha Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành. Anh Vi Văn T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Kha Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000593 ngày 14/3/2024.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lữ Thị Dung |
Bản án số 82/2024/ST-HNGĐ ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 82/2024/ST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn giữa chị H và anh T
