Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 27-12-2023

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

giữa ông Nguyễn Tiến Đạt và bà Sử

Tập Linh

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Lợi

Bà Nguyễn Thị Tĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án nhân

dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 393/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1985

Địa chỉ: Số H C, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Sử Tập L, sinh năm 1985

Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Số A N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An

Nơi ở hiện tại: Số H C, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn, bị đơn có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2023, các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Tiến Đ trình bày:

Ông và bà Sử Tập L kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố T, tỉnh Long An vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại địa chỉ Số H C, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong việc nuôi dạy con và do kinh tế không ổn định. Chi phí sinh hoạt trong gia đình đều do ông lo. Thu nhập hàng tháng của ông đều đưa cho bà L để lo chi phí sinh hoạt trong gia đình. Tuy nhiên, bà L không nói cho ông biết các khoản đã chi tiêu và vợ chồng cũng không tích góp dược khoản tiền chung nào. Tuy vẫn còn chung sống chung nhà nhưng thực tế ông và bà L đã ly thân và không phát sinh quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc nhau từ năm 2021 đến nay. Bà L đã dọn về nhà ba mẹ sống từ đầu tháng 12 năm 2023. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà Sử Tập L.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Sử Phúc L1, sinh ngày 13/7/2020 và Nguyễn Sử Hải L2, sinh ngày 13/7/2020. Khi ly hôn, ông Nguyễn Tiến Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung chưa thành niên tên Nguyễn Sử Phúc L1 và Nguyễn Sử Hải L2. Ông Nguyễn Tiến Đ không yêu cầu bà Sử Tập L cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp Tòa án giải quyết giao hai con chung cho bà S Tập Linh trực tiếp nuôi dưỡng thì ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức mỗi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Sử Tập L trình bày: Bà L thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Tiến Đ về thời gian, điều kiện kết hôn và thời gian chấm dứt quan hệ vợ chồng. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 01 năm 2021 đến nay. Hiện nay bà không còn sống chung nhà với ông Đ, bà và các con đã dọn về nhà ba mẹ của bà sinh sống, đây cũng là nhà riêng của bà có nguồn gốc do ba mẹ của bà tặng cho. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Tiến Đ.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Sử Phúc L1, sinh ngày 13/7/2020 và Nguyễn Sử Hải L2, sinh ngày 13/7/2020. Khi ly hôn, bà Sử Tập L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Bà Sử Tập L yêu cầu ông Nguyễn Tiến Đ cấp dưỡng nuôi con chung với mức mỗi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện hôn nhân giữa ông Đ và bà L là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con và kinh tế không ổn định, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện tại vợ chồng sống chung nhà nhưng thực tế đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà L cũng đồng ý linh hôn với ông Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Đ và bà L.

Về cong chung: Ông Đ và bà L có 02 con chung tên Nguyễn Sử Phúc L1, sinh ngày 13/7/2020 và Nguyễn Sử Hải L2, sinh ngày 13/7/2020 hiện đang sống chung với bà L. Cả ông Đ và bà L đều có thu nhập ổn định và điều kiện để chăm sóc con chung. Tuy nhiên, xét về điều kiện hoàn cảnh thì bà L có điều kiện về mặt thời gian và cha mẹ bà L phụ giúp, hiện nay hai cháu Nguyễn Sử Phúc L1 và Nguyễn Sử Hải L2 đang sống với bà L. Vì thế để đảm bảo sự ổn định và phát triển mọi mặt của hai cháu, đề nghị Hội đồng xét xử giao hai cháu Nguyễn Sử Phúc L1 và Nguyễn Sử Hải L2 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng là 2.000.000 đồng, phù hợp theo quy định tại các điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Tiến Đ có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Sử Tập L có địa chỉ cư trú tại số H C, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tiến Đ và bà Sử Tập L có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố T, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 5 năm 2015 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Ông Đ và bà L đã được Tòa án hòa giải đoàn tụ để hàn gắn hạnh phúc gia đình, nhưng cả ông Đ và bà L đều thể hiện ý chí không muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông Đ xác định không còn tình cảm gì với bà L và cương quyết ly hôn, bà L đồng ý ly hôn với ông Đ. Tuy vẫn còn chung sống chung nhà nhưng thực tế ông Đ và bà L đã ly thân và không phát sinh quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc nhau từ năm 2021 đến nay. Hôn nhân giữa ông Đ và bà L không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Đ và bà L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 55, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung:

[4.1] Về quyền nuôi con chung: Ông Đ và bà L có 02 con chung tên Nguyễn Sử Phúc L1, sinh ngày 13/7/2020 và Nguyễn Sử Hải L2, sinh ngày 13/7/2020 hiện đang sống chung với bà L. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, ông Đ và bà L đều có yêu cầu được nuôi hai con chung, đây là yêu cầu hoàn tòan chính đáng của cả ông Đ và bà L. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc phải đảm bảo các điều kiện tốt nhất để hai cháu Nguyễn Sử Phúc L1 và Nguyễn Sử Hải L2 phát triển.

Xét thấy, ông Đ và bà L có thu nhập và chổ ở ổn định, đủ điều kiện và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, xét về thời gian làm việc, do tính chất công việc nên ông Đ có thời gian đi làm vào ban đêm; bà L có giờ làm việc ổn định vào ban ngày nên bà L có điều kiện về thời gian để chăm sóc con chung tốt hơn. Hiện nay các con chung đang sống chung với bà L. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt của các con chung, nên giao hai cháu Nguyễn Sử Phúc L1 và Nguyễn Sử Hải L2 cho bà S Tập Linh trực tiếp

nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con với mức mỗi con chung mỗi tháng là 3.000.000 đồng. Ông Đ chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con với mức mỗi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Xét thu nhập trung bình mỗi tháng của ông Đ là 10.000.000 đồng nên mức cấp dưỡng muôi con đối với mỗi con chung mỗi tháng là 2.000.000 đồng là phù hợp nên Hội đồng xét xử buộc ông Đ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 2.00.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: ông Đ và bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

[6] Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.

[7] Về án phí: Ông Nguyễn Tiến Đ và bà Sử Tập L mỗi người có nghĩa vụ chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã có giảm 50% do đã thoả thuận tự nguyện ly hôn. Ông Nguyễn Tiến Đ có nghĩa vụ chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Tiến Đ và bà Sử Tập L.
  2. Về con chung: Giao hai con chung chưa thành niên tên Nguyễn Sử Phúc L1, sinh ngày 13/7/2020 và Nguyễn Sử Hải L2, sinh ngày 13/7/2020 cho bà Sử Tập L trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Tiến Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung tên Nguyễn Sử Phúc L1, sinh ngày 13/7/2020 và Nguyễn Sử Hải

L2, sinh ngày 13/7/2020 với mức mỗi con chung mỗi tháng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), bắt đầu cấp dưỡng từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ chậm cấp dưỡng: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, trong trường hợp người phải thi hành án chậm thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí: Ông Nguyễn Tiến Đ phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí về cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Tiến Đ đã nộp theo biên lai thu số 0002844 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An. Bà Sử Tập L phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - Chi cục THADS TP. Tân An;
  • - UBND cấp xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 82/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger