|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 27 tháng 8 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm, ông Trần Đức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thương T, sinh ngày 25/6/1995 huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ L (chết); anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ ba; vợ, con: Chưa có.
Tiền án: có 01 tiền án. Tại bản án sơ thẩm số: 85/2017/HSST ngày 20/9/2017, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” đến ngày 18/4/2023 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T (có mặt).
Bị hại: Anh Phạm Tấn N1, sinh năm: 1994; trú tại: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Hồ Văn D, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Trú tại: Số F V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang;
+ Ông Huỳnh Hồng B, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Trú tại: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
Người làm chứng: Ông Dương Hoàng H (vắng mặt) và chị Võ Thị N2 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 12/4/2024, Võ Thị N2 điều khiển xe mô tô biển số 68X1-507.00 chở Trần Thương T (bạn trai của N2) đến quán “Hoàng H” tại ấp V, xã V, huyện T uống nước, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Như kêu T ở quán đợi, N2 một mình điều khiển xe đi tìm người bạn của Như giải quyết công việc. Lúc này, T trong quán nhìn thấy xe mô tô biển số 67C1-403.08, nhãn hiệu Honda, loại Future Neo Fi của Phạm Tấn N1 dựng cặp lối ra vào quán, nhưng không người trông coi, chìa khóa xe cấm sẵn trong ổ khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm. Thực hiện ý định, T đi đến lên xe mô tô 67C1-403.08 ngồi bật công tắc ổ khóa chưa kịp nổ máy thì bị N1 phát hiện truy hô, xông đến dùng chân đạp làm T ngã xe. Khi T đứng dậy bỏ chạy ra đường T gặp Như kêu dừng xe, T lên cầm lái chở N2 bỏ chạy nhưng không cho N2 biết bỏ trốn do có hành vi lấy trộm tài sản. Tín điều khiển xe mô tô bỏ chạy được khoảng 50m thì bị N1 cùng lực lượng Công an xã V trên đường tuần tra phát hiện vây bắt T đem về trụ sở Công an xã lập biên bản.
Vật chứng thu giữ: Xe mô tô biển số 68X1-507.00; số khung, số máy không rõ; xe mô tô biển số 67C1-403.08; số khung 35039Y611645; số máy JC35E7023254; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen không gắn sim số; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, sim số 0988448274; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nova 3 không gắn sim số; 01 cây kiềm màu xanh; 02 cây tua vít; 05 cây lục giác; 01 quần jean màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu trắng; 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-ĐG ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T xác định: Xe mô tô biển số 67C1-403.08, nhãn hiệu Honda loại Future Neo màu xám bạc, số khung 35039Y611645; số máy JC35E7023254 trị giá 19.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKSTS ngày 01 tháng 7 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố Trần Thương T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trần Thương T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 15, Điều 57, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thương T từ 09 tháng đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng các Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cây kiềm màu xanh; 02 cây tua vít; 05 cây lục giác; 01 quần jean màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu trắng; 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng; biển số xe 68X1-507.00 không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen không gắn sim số; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, sim số 0988448274; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nova 3 không gắn sim số do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn: Xanh, số khung: VFMPCH074FM000168, số máy: VLFFM1P52FMH34M100187 do bị cáo sử dụng để tẩu thoát.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Trần Thương T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 12/4/2024, tại quán cà phê “H" thuộc ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, bị cáo Trần Thương T đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu (đậu xe không rút chìa khóa) nên đã lên xe chuẩn bị nổ máy tẩu thoát thì bị chủ sở hữu là anh N1 phát hiện nên ngăn cản và cùng lực lượng Công an xã V bắt giữ bị cáo. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Việc bị cáo không chiếm được chiếc xe mô tô biển số 67C1-403.08, nhãn hiệu Honda, loại Future Neo Fi của anh Phạm Tấn N1 là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã bị xử phạt về cướp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội cướp tài sản chưa được xóa án tích là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn: Xanh, số khung: VFMPCH074FM000168, số máy: VLFFM1P52FMH34M100187. Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen không gắn sim số; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, sim số 0988448274; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nova 3 không gắn sim số. Tịch thu tiêu hủy: Biển số xe 68X1-507.00; 01 cây kiềm màu xanh; 02 cây tua vít; 05 cây lục giác; 01 quần jean màu xanh; 01 áo khoác dài tay màu trắng; 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thương T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. (Phạm tội chưa đạt).
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các điều 15, 57, 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Thương T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/4/2024).
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, không gắn sim; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, sim số 0988448274; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nova 3, màu đỏ, kiểu máy: Par-Lx9, Imel 1: 869592030615617, Imel 2: 86959230641621, không gắn sim. Tịch thu tiêu hủy: Biển số xe 68X1-507.00; 01 (một) cây kiềm màu xanh; 02 (hai) cây tua vít; 05 (năm) cây lục giác các loại; 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) áo khoác vải dài tay màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng xanh. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda; loại Wave; màu sơn: Xanh; số khung: VFMPCH074FM000168; số máy: VLFFM1P52FMH34M100187.
(Đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thương T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản (phạm tội chưa đạt)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản (Phạm tội chưa đạt)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạt tù
