Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 82/2023/KDTM-ST

Ngày: 26/12/2023

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn
  • Bà Lê Thị Huyền
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 16/2023/TLST- DS ngày 05/4/2023 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐST - DS ngày 03/10/2023 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 73/QĐHPT-DS ngày 31/10/2023, Quyết định hoãn số 74/QĐHPT-DS ngày 17/11/2023, Quyết định hoãn số 84/QĐHPT-DS ngày 30/11/2023, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (viết tắt là P1); Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L - Chủ tịch HĐQT; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Cảnh T, Cán bộ Ngân hàng. (Có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Đào Cư B, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1983; Trú tại: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; (Có mặt ông B, vắng mặt bà P).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Đào Thị Thảo S, sinh năm 2003; Chị Đào Thị Hạ V, sinh năm 2005; Cháu Đào Thị Tâm N, sinh năm 2009; Cháu Đào Cư Đức T1, sinh năm 2014; Người đại diện hợp pháp cho cháu N1, cháu T1: Ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P (bố mẹ đẻ). Đều trú tại: Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Tại Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P và Ngân hàng TMCP P2 (nay là Ngân hàng TMCP Đ) đã ký Hợp đồng tín dụng hạn mức số 2308/2011/HĐHM-CN.HN ngày 25/8/2011, cụ thể: số tiền vay và giải ngân 1.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: 12 tháng; Mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh; Lãi suất tại thời điểm vay: 22,4%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay.

Tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, tại địa chỉ tổ A B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 722398, số vào sổ cấp GCN: CH-00917 do UBND quận H cấp ngày 22/6/2011 cho ông Đào Cư B.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng việc trả lãi và gốc như đã cam kết, khoản nợ ông B, bà P đã quá hạn. Ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P đã trả P1 tổng số tiền 161.082.758 đồng lãi trong hạn, gốc chưa trả đồng nào. Khoản nợ của ông B, bà P đã chuyển quá hạn từ tháng 30/8/2012.

Ngân hàng TMCP Đ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:

  • - Buộc ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P thanh toán toàn bộ số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng tính đến ngày 14/11/2022 với tổng số tiền là 5.015.489.125 đồng; trong đó: Nợ gốc 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi phát sinh: 4.015.489.125 đồng.
  • Buộc ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo quy định trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 15/11/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  • - Trong trường hợp ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp cho khoản vay để xử lý, thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, tại địa chỉ tổ A B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 722398, số vào sổ cấp GCN: CH-00917 do UBND quận H cấp ngày 22/6/2011 cho ông Đào Cư B.
  • - Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì đề nghị Tòa án tuyên ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng bằng nguồn thu và tài sản hợp pháp khác.

Tại Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn – ông Đào Cư B trình bày: Ngày 25/8/2011, vợ chồng ông có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP P2 để vay số tiền 1.000.000.000đ như Ngân hàng trình bày là đúng. Để đảm bảo cho khoản vay, vợ chồng ông đã ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, tại địa chỉ tổ A B, phường P, quận H, thành phố

2

Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 722398, số vào sổ cấp GCN: CH-00917 do UBND quận H cấp ngày 22/6/2011 cho ông Đào Cư B. Theo Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc ký hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa vợ chồng bà và Ngân hàng là tự nguyện.

Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng bà đã sử dụng tiền đúng mục đích nhưng do làm ăn không thuận lợi nên chỉ trả nợ được ngân hàng một thời gian đầu, sau đó mất khả năng trả nợ. Vợ chồng ông còn nợ Ngân hàng số nợ gốc là 1.000.000.000 đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện, ông đồng ý trả nợ ngân hàng nhưng đề nghị Ngân hàng miễn giảm một phần lãi, ông, bà thanh toán một lần cho ngân hàng và giải chấp tài sản.

  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là Chị Đào Thị Thảo S, sinh năm 2003; Chị Đào Thị Hạ V, sinh năm 2005; Cháu Đào Thị Tâm N, sinh năm 2009; Cháu Đào Cư Đức T1, sinh năm 2014; Người đại diện hợp pháp cho cháu N1, cháu T1: Ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P (bố mẹ đẻ). Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định và lập biên bản không lấy được lời khai.
  • Ngày 22/5/2023, đại diện Nguyên đơn có Đơn đề nghị xem xét, thẩm định tài sản bảo đảm của bên thế chấp.
  • Ngày 05/01/2022, Hội đồng thẩm định tài sản đã tiến hành thẩm định tại chỗ xác định: thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, tại địa chỉ tổ A B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 722398, số vào sổ cấp GCN: CH-00917 do UBND quận H cấp ngày 22/6/2011 cho ông Đào Cư B. Hiện trạng thửa đất phù hợp với Giấy chứng nhận, trên đất có 01 nhà 3 gian mái ngói diện tích khoảng 50m² xây từ năm 1984, năm 2013 gia đình sửa lại phần mái ngói; 01 nhà 01 tầng đổ mái bằng diện tích khoảng 45m² xây năm 1994; 01 sân gạch lợp mái tôn; gia đình xác nhận hiện trạng nhà đất gần như không có gì thay đổi so với thời điểm gia đình thế chấp với Ngân hàng. Gia đình xác nhận nhà đất hiện không có tranh chấp, chuyển nhượng, cho thuê hay ở nhờ.
  • - Xác minh tại Công an phường P tại thời điểm hiện tại (ngày 07/6/2023) gia đình ông B, bà P có các thành viên trên có hộ khẩu và đang sinh sống trên đất gồm: Ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P, cháu Đào Thị Thảo S, Đào Thị Hạ V, Đào Thị Tâm N, Đào Cư Đức T1 (là các con của ông B, bà P).

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi chậm trả 1.552.509.665 đồng, giữ nguyên các yêu cầu ông B, bà P trả gốc và số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng, cụ thể:

Buộc ông B, bà P trả Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 26/12/2023 là: 3.991.660.575 đồng; trong đó: nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 62.702.242 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.928.958.333 đồng.

3

Kể từ ngày 27/12/2023, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết khoản vay. Trường hợp bị đơn không trả được khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ theo quy định.

  • - Bị đơn đề nghị, không có ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị nguyên đơn miễn giảm một phần lãi để bị đơn thu xếp thanh toán trả ngân hàng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật; đúng tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 26, 35 và 39; khoản 2, 3, 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng Dân sự; quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện hòa giải, xác minh, thẩm định, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ. Về thời hạn xét xử: Vụ án thụ lý tháng 4/2023, đến tháng 10/2023 đưa ra xét xử là đảm bảo thời hạn theo quy định. Tại phiên tòa, HĐXX, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quyền hạn và nhiệm vụ của mình. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự: tham gia hòa giải, lấy lời khai, và cung cấp chứng cứ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Xác định hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, Hợp đồng thế chấp, Phụ lục hợp đồng thế chấp tài sản xác lập giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên các bên phải có trách nhiệm thi hành theo đúng hợp đồng đã ký kết. Đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ các điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 290, 305, 342, 348, 355, 417, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005; khoản 1 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị:

  • Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi số tiền lãi chậm trả.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn khoản nợ tính đến ngày 26/12/2023 là: 3.991.660.575 đồng; trong đó: nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 62.702.242 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.928.958.333 đồng theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Kể từ ngày 27/12/2023, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết khoản vay. Trường hợp bị đơn không trả được khoản nợ nêu trên thì nguyên đơn có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ theo quy định.

Án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

4

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về tố tụng:

Tranh chấp trong vụ án là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng, bị đơn có Giấy chứng nhận đăng kinh doanh hộ kinh doanh cá thể, thuộc quan hệ pháp luật Kinh doanh thương mại; bị đơn có địa chỉ cư trú tại Tổ dân phố A, phường P, quận H, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  • - Về quyền khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ được Ngân hàng N2 cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần; và được Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp Công ty Cổ phần, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, ngành nghề kinh doanh có hoạt động tín dụng gồm có: hoạt động vay vốn, hoạt động cấp tín dụng... Như vậy, Ngân hàng TMCP Đ được thành lập hợp pháp, được quyền khởi kiện các vấn đề liên quan trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
  • - Đối với việc vắng mặt của bà Nguyễn Thị P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Xét bà Nguyễn Thị P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có lý do, quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến gì khác. Do đó, việc vắng mặt của các đương sự trên tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng tiến hành xét xử theo quy định.
  • - Về việc Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi chậm trả 1.552.509.665 đồng. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện này.

[2]. Về nội dung:

2.1. Xét yêu cầu của Ngân hàng:

Buộc ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải trả cho P1 toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi và các loại phí phát sinh theo Hợp đồng tín dụng.

Ngày 25/8/2013, ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P vay vốn tại Ngân hàng TMCP P2 (nay là Ngân hàng TMCP Đ) tổng số tiền: 1.000.000.000 đồng. Ngân hàng đã thực hiện giải ngân cho ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P tổng số tiền 1.000.000.000 đồng bằng Khế ước nhận nợ ngày 30/8/2011.

Quá trình thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P thực hiện được một phần nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Cụ thể, tính đến ngày 17/11/2023, ông B và bà P đã trả Ngân hàng 161.378.976 đồng lãi trong hạn, nợ gốc chưa trả đồng nào; còn phải thanh toán theo Ngân hàng yêu cầu là: tổng nợ: 3.991.660.575 đồng; trong đó: nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 62.702.242 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.928.958.333 đồng.

Khoản nợ của ông B, bà P đã chuyển quá hạn từ tháng 30/8/2012. Ngân hàng đã thông báo xử lý nợ quá hạn, yêu cầu khách hàng tất toán khoản vay tuy nhiên, ông B, bà P không thanh toán khoản nợ nêu trên.

Xét, việc ký kết hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ giữa ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P vay vốn tại Ngân hàng TMCP P2 (W) - Nay là Ngân hàng

5

TMCP Đ (P1) là tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý, có hiệu lực thi hành, buộc các bên phải thực hiện. Ông B, bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu ông B, bà P phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ khoản tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn như thỏa thuận là có căn cứ, được chấp nhận;

Đối chiếu các thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng, bảng kê tính lãi do Ngân hàng cung cấp, thấy mức lãi suất P1 áp dụng và yêu cầu bị đơn phải thanh toán là phù hợp với các thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ giữa các bên, phù hợp với quy định của Thống đốc ngân hàng Nhà nước cũng như các quy định tại các Điều 388, 390, 391, 402, 405 và 471, 474 Bộ luật dân sự 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”; Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 và theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có cơ sở để chấp nhận.

Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của P1, buộc ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền tính đến ngày 26/12/2023 là: 3.991.660.575 đồng; trong đó: nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 62.702.242 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.928.958.333 đồng.

2.2. Về yêu cầu của Ngân hàng đối với việc xử lý tài sản thế chấp:

HĐXX xét: Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, tại địa chỉ tổ A B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 722398, số vào sổ cấp GCN: CH-00917 do UBND quận H cấp ngày 22/6/2011 cho ông Đào Cư B. Tài sản được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 7347.11, quyển số 3 TP-CC-SCC/HĐGD ngày 25/8/2011 tại Văn phòng C thành phố Hà Nội, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/8/2011 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận H theo quy định của pháp luật.

Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của P1 về việc xử lý tài sản thế chấp của Bên thế chấp khi ông B, bà P không có khả năng thanh toán khoản tiền nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh, kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định tại các Điều 342, và Điều 355 Bộ luật dân sự 2005.

[3]. Về án phí:

Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết 326 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí, xét:

Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng được chấp nhận nên không phải nộp tiền án phí.

Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

6

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 290, 305, 342, 348, 350, 351, 355, 471, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ nghị quyết 326/2016 của UBTV Quốc Hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ về việc yêu cầu ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải thanh toán số tiền lãi chậm trả tính đến ngày 26/12/2023 và lãi chậm trả phát sinh sau ngày 26/12/2023.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P.

Buộc ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 2308/2011/HĐHM-CN.HN ngày 25/8/2011 tính đến ngày 26/12/2023 là: 3.991.660.575 đồng; trong đó: nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 62.702.242 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.928.958.333 đồng.

Kể từ ngày 27/12/2023, ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P còn phải tiếp tục chịu lãi suất đối với số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian và số tiền chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  1. Trường hợp ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P không thanh toán được số nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 297, tờ bản đồ số 11, tại địa chỉ tổ A B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 722398, số vào sổ cấp GCN: CH-00917 do UBND quận H cấp ngày 22/6/2011 cho ông Đào Cư B. Tài sản được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 7347.11, quyển số 3 TP-CC-SCC/HĐGD ngày 25/8/2011 tại Văn phòng C thành phố Hà Nội.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P đối với Ngân hàng.

Trường hợp ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P trả được toàn bộ khoản tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại GCNQSD đất đã thế chấp và làm thủ tục giải chấp ngay theo quy định của pháp luật.

Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp, số tiền phát mại không đủ thanh toán thì ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.

7

Trường hợp số tiền phát mại tài sản thế chấp có giá trị lớn hơn số tiền ông B, bà P còn nợ Ngân hàng thì số tiền còn lại sau khi thanh toán khoản vay được trả cho người thế chấp tài sản.

Trường hợp phải xử lý tài sản đảm bảo thì ngoài các đương sự liên quan trong vụ án này và những người khác có hộ khẩu tại địa chỉ trên hoặc không có hộ khẩu nhưng thực tế sinh sống tại địa chỉ trên cũng phải di chuyển đi chỗ khác để thi hành án.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án buộc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Buộc ông Đào Cư B, bà Nguyễn Thị P phải nộp 111.833.212 đồng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2020/0011251 ngày 05/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

  1. Án xử công khai sơ thẩm; đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội.
  • - VKS ND TP Hà Nội;
  • - VKS ND quận Hà Đông.
  • - Chi cục THA DS quận Hà Đông.
  • - Đương sự.
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thoa

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2023/KDTM-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 82/2023/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kinh doanh Thương mại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger