Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-PT

Ngày 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Kiên
Bà Bùi Thị Thúy Hà

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 47/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Bá Q và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Trần Bá Q, sinh ngày 13 tháng 3 năm 2007 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 22 ngày); nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khoa H và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58/QĐ-XPHC ngày 06/9/2022 của Công an huyện T xử phạt cảnh cáo về hành vi cố ý gây thương tích; bị bắt tạm giam ngày 20/6/2023, đến ngày 16/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Có mặt.
  2. Lê Đức D, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2005 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 14 ngày); nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/8/2023; có mặt.
  3. Bùi Văn Đ, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2006 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 6 tháng 24 ngày); nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn P và bà Bùi Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65/QĐ-XPHC ngày 06/9/2022 của Công an huyện T xử phạt cảnh cáo về hành vi cố ý gây thương tích; bị bắt tạm giam ngày 20/6/2023, đến ngày 16/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Có mặt.
  4. Trịnh Văn Đ1, sinh ngày 19 tháng 7 năm 2004 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T2 và bà Trần Thị H3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/8/2023; Có mặt.
  5. Đỗ Văn T3, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2005 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 5 tháng 03 ngày); nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T4 và bà Trần Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/8/2023; Có mặt.
  6. Ngô Văn H4, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2006 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 01 tháng 28 ngày); nơi cư trú: Thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn L và bà Nguyễn Thị T5; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/8/2023; Có mặt.
  7. Trần Văn T6, sinh ngày 09 tháng 5 năm 2006 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 10 tháng 26 ngày); nơi cư trú: Thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P1 và bà Bùi Thị N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64/QĐ-XPHC ngày 06/9/2022 của Công an huyện T xử phạt cảnh cáo về hành vi cố ý gây thương tích; bị bắt tạm giam ngày 20/6/2023, đến ngày 16/8/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; Có mặt.
  8. Đỗ Tấn H5, sinh ngày 28 tháng 12 năm 2004 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T7 và bà Lê Thị L1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/8/2023; Có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:

Trần Văn V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2006 tại Hải Phòng (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 3 tháng 03 ngày); nơi cư trú: Thôn S, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V1 và bà Nguyễn Thị H6; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 97/2023/HS-ST ngày 02/8/2023 xử phạt Trần Văn V 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích xảy ra ngày 07/3/2022 tại D, T; bị bắt tạm giam ngày 20/6/2023; Vắng mặt (không triệu tập).

- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Bá Q, Bùi Văn Đ: Ông Bùi Văn B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Bá Q: Ông Trần Khoa H, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Văn Đ: Ông Bùi Văn P, sinh năm 1976 và bà Bùi Thị T1, sinh năm 1984 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn T6: Ông Trần Văn P1, sinh năm 1987 và bà Bùi Thị N1, sinh năm 1989 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); địa chỉ: Thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ việc ngày 02 và 03/4/2023, Trần Bá QLê Đức D bị một nhóm thanh niên (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đánh nhưng không gây thương tích ở khu vực xã L, huyện T nên QD nảy sinh ý định chuẩn bị hung khí và rủ người đi tìm nhóm thanh niên đã đánh mình để đánh trả thù. Để thực hiện ý định trên Quyền, D rủ Trần Văn V tối ngày 04/4/2023, đi tìm nhóm thanh niên trên để đánh nhau, V đồng ý. Tối ngày 03/4/2023, Q mang theo 05 thanh kiếm, 01 cây gậy ba khúc mang đến cất giấu tại phòng trọ của anh Trần Bá H7, sinh năm 1986, nơi thường trú: Thôn T, xã D (là chú của Q) thuê của ông Vũ Văn V2, sinh năm 1969 tại thôn T, xã D để đi đánh nhau. Lê Đức D kể việc bị đánh và rủ Nguyễn Tất A, sinh ngày 26/3/2009 (14 tuổi 0 tháng 09 ngày), nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Bùi Văn Đ, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Tấn H5 đi đánh nhau, cả nhóm đồng ý.

Đến khoảng 20 giờ ngày 04/4/2023, Trần Văn T6, Ngô Văn H4, Đỗ Văn T3 là bạn bè cùng quen biết với nhóm của Q đi đến phòng trọ của anh Trần Bá H7 chơi thì thấy Q, D, V, Tất A, Đ, Đ1, Đỗ Tấn H5 cùng ở đó. Tại đây, QD tiếp tục rủ cả nhóm gồm V, Tất A, Đ, Đ1, Đỗ Tấn H5, T6, Ngô Văn H4, T3 đi đến xã L tìm nhóm thanh niên đã đánh QD ngày hôm trước để đánh nhau mọi người đều đồng ý. Sau đó, V vào phòng trọ của H7 lấy 02 thanh kiếm, V cầm 01 thanh kiếm và đưa cho Q 01 thanh kiếm; Đ1, D, T3 cũng lấy mỗi người 01 thanh kiếm; Ngô Văn H4 lấy 01 cây gậy ba khúc giấu trong người mang đi đánh nhau. Sau đó Ngô Văn H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không có biển kiểm soát (xe của Q) chở Q; Tất A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang biển kiểm soát 15B3-781.60 (xe của Tất A) chở V; Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade mang biển kiểm soát 15G1-897.91 (xe của Đ) chở D; T6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mang biển kiểm soát 15B4-276.63 (xe của T3) chở T3; Đỗ Tấn H5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade mang biển kiểm soát 15G1-891.81 (xe của Đ1) chở Đ1, cả nhóm cùng đi theo hướng từ xã D đến xã L để tìm nhóm thanh niên đã đánh QD.

Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi cả nhóm đi đến quán T9 “Bụi Phố” thuộc thôn Đ, xã L do chị Đinh Thị Tuyết M, sinh năm 1998, trú tại thôn B, xã L, T làm chủ thì Q thấy anh Đinh Hữu A1, sinh ngày 25/8/2005 (17 tuổi 7 tháng 10 ngày), nơi thường trú: thôn E, xã P, Thủy N, Hải Phòng, anh Đinh Văn Tuấn A2, sinh ngày 04/9/2005 (17 tuổi 7 tháng) và anh Đinh Khắc Tiến Đ2, sinh ngày 25/4/2006 (16 tuổi 11 tháng 10 ngày) đều thường trú tại thôn B, xã L, Thủy N đang ngồi uống nước ở vỉa hè. Quyền thấy anh A1 giống một người trong nhóm thanh niên lạ mặt hôm trước đã đánh mình nên Q hô “đúng thằng đeo kính rồi”. Đồng thời, Quyền, V, Đ1, T3, D, Đàm nhảy xuống xe chạy đến chỗ các anh A1, Đ2, Tuấn A2 còn Ngô Văn H4, Đỗ Tấn H5, Tất A, T6 ngồi trên xe quan sát. Thấy nhóm Q lao đến anh A1 đứng dậy bỏ chạy thì bị V dùng chân đạp một nhát vào người làm anh A1 bị ngã, D đuổi theo Tuấn A2 được khoảng 5-7m thì quay lại dùng chân đạp một nhát vào người anh A1; Q cầm kiếm chém một nhát trúng gối phải, một nhát trúng mặt trước cẳng chân phải của anh A1 gây thương tích; Đ dùng tay đấm nhiều nhát vào vùng gáy và đầu anh A1; T3 dùng cán kiếm đánh anh A1; Đ1 cầm kiếm giơ lên nhưng không đánh, chém anh A1. Sau đó, V đẩy anh A1 xuống hồ nước cạnh vỉa hè thì Ngô Văn H4 xuống xe cầm ghế ở quán ném theo trúng vào vùng lưng của anh A1. Sau khi đánh A1, nhóm Q đi ra xe thì thấy anh Đ2 vẫn ngồi ở ghế uống nước nên V, D dùng tay chân và lấy ghế ở quán đánh anh Đ2 nhưng không gây thương tích. Sau đó cả nhóm điều khiển xe mô tô đi về. Trên đường về, T3 ném thanh kiếm xuống mương nước thuộc khu vực cầu V thuộc K, xã T, T, Hải Phòng; Quyền, V, Đ1, Ngô Văn H4 cầm kiếm và gậy ba khúc về để ở phòng trọ của anh Trần Bá H7 cất giấu. Anh A1 bị nhóm của Q, D chém, đánh gây thương tích anh đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 đĩa CD nhãn hiệu Maxell dung lượng 720MB chứa đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của quán nước trà chanh “Bụi phố” ghi lại hình ảnh xô xát đánh nhau.

Quá trình điều tra, anh Trần Bá H7 đã tự nguyện giao nộp 01 thanh kiếm dài khoảng 47cm cán bằng gỗ dài khoảng 14cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, bản rộng nhất 6cm, một đầu nhọn, một lưỡi sắc, trên lưỡi kiếm có một lỗ khuyết hình tròn đường kính 01 cm; 01 thanh kiếm dài khoảng 46cm, cán bằng gỗ dài khoảng 14cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, bản rộng nhất 5,5cm một đầu nhọn, một lưỡi sắc; 01 thanh kiếm dài khoảng 46cm, cán bằng gỗ dài khoảng 14cm, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, bản rộng nhất 06cm, một đầu nhọn, một lưỡi sắc, trên lưỡi kiếm có nhiều lỗ khuyết; 01 thanh kiếm dài khoảng 70cm cán bằng gỗ dài 14cm, lưỡi kiếm bằng kim loại bề mặt han gỉ bản rộng nhất 03cm, mũi kiếm nhọn, hai lưỡi sắc; 01 gậy ba khúc (dạng rút) hình trụ tròn bằng kim loại sáng màu dài khoảng 60cm, đường kính phần lớn nhất 2,5cm, phần tay nắm bọc cao su màu đen có vân nổi.

Đối với thanh kiếm T3 vứt xuống mương nước tại khu vực cầu VSIP 2 gần Nhà máy B Công ty TNHH R thuộc K, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đại diện gia đình các đối tượng là các anh Đỗ Văn T4, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã H, huyện T giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu đen mang BKS 15B4-276.63; Nguyễn Tất T8, sinh năm 1974, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen gắn BKS 15B3-781.60; Trịnh Văn T2, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã H, huyện T giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu sơn đen mang BKS 15G1-891.81; Bùi Văn P, sinh năm 1976, trú tại thôn Đ, xã D, huyện T giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu AirBlade màu sơn đỏ đen mang BKS 15G1-897.91 là phương tiện các đối tượng đã dùng chở nhau đi đánh nhau để phục vụ công tác điều tra.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 298/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 23/5/2023 của Trung tâm P kết luận các thương tích của Đinh Hữu A1, cụ thể: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mặt trước gối phải gây nên là: 02%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương mặt trước giữa cẳng chân phải gây nên là 02%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do đứt gân bánh chè gối phải gây nên là 08%. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Hữu A1 tại thời điểm giám định là 12%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên.

Tại Bản kết luận giám định số 288/KL-KTHS(KTS) ngày 26/5/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 01 (một) tập tin video có dung lượng 6,12 MB được lưu trong 01 đĩa đã qua sử dụng không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Bản cáo trạng số 145/CT-VKSLC ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Trần Văn V, Bùi Văn Đ, Trần Văn T6, Ngô Văn H4, Đỗ Tấn H5, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3 về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã:

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, Điều 90, 91, 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Bá Q đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trần Bá Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (Bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày 16/8/2023).

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, Điều 90, 91, 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Đức D đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Đức D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, 56, 58, Điều 90, 91, 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 30 (Ba mươi) tháng tù và tổng hợp với hình phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù của Bản án số 97/2023/HS-ST, ngày 02/8/2023 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là: 54 (Năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 20/6/2023.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 90, 91, 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày 16/8/2023).

- Căn cứ đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Đại đ phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Đ1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 90, 91, 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T3 đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T3 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 90, 91, 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H4 đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn H4 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo Đỗ Tấn H5 đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Tấn H5 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 90, 91, 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T6 đồng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T6 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (Bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày 16/8/2023).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và đại diện theo pháp luật của bị cáo, bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/3/2024, các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Bùi Văn Đ, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3, Ngô Văn H4, Đỗ Tấn H5, Trần Văn T6 kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và bổ sung nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vai trò của các bị cáo, độ tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội, xác định: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4Trần Văn T6 là nặng, không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3Đỗ Tấn H5 là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T6, Bùi Văn Đ và người đại diện hợp pháp của các bị cáo, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn H4. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và người đại diện của các bị cáo còn lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về đơn kháng cáo: Trong các đơn kháng cáo của các bị cáo đều có chữ ký của bố, mẹ các bị cáo, tuy nhiên các đơn đều có nội dung người kháng cáo là các bị cáo. Do đó, xác định đơn kháng cáo là của các bị cáo. Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Bùi Văn Đ, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3, Ngô Văn H4, Đỗ Tấn H5, Trần Văn T6 trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét.

[2] Về phạm vi xét xử: Đơn kháng cáo của các bị cáo đều có nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được cải tạo tại xã hội. Tại phiên tòa, các bị cáo bổ sung nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm mức án cho các bị cáo. Việc bổ sung nội dung kháng cáo của các bị cáo phù hợp với quy định tại Điều 354 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét. Do vậy, cấp phúc thẩm chỉ xem xét về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

- Về nội dung kháng cáo:

[3] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của các bị cáo phù hợp lời khai của bị hại và vật chứng đã thu giữ trong vụ án. Kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Xuất phát từ việc, ngày 02 và 03/4/2023, Trần Bá QLê Đức D bị một nhóm thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ đuổi đánh nhưng không gây thương tích nên đã nảy sinh ý định chuẩn bị hung khí, rủ người đi tìm nhóm đã đánh mình để đánh trả thù. Khoảng 20 giờ ngày 04/4/2023, Ngô Văn H4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh không có biển kiểm soát (xe của Q) chở Q; Nguyễn Tất A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang biển kiểm soát 15B3-781.60 (xe của Tất A) chở V; Bùi Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade mang biển kiểm soát 15G-897.91 (xe của Đ) chở D; Trần Văn T6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mang biển kiểm soát 15B4-276.63 (xe của T3) chở T3; Đỗ Tấn H5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade mang biển kiểm soát 15G1-891.81 (xe của Đ1) chở Trịnh Văn Đ1, cả nhóm cùng đi theo hướng từ xã D đến xã L để tìm nhóm thanh niên đã đánh QD. Đến khoảng 20 giờ 40 phút ngày 04/4/2023, khi cả nhóm đi đến quán T9 “Bụi Phố” thuộc thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng thì Q thấy anh Đinh Hữu A1 giống một người trong nhóm thanh niên lạ mặt hôm trước đã đánh mình nên Q hô lên, nhóm bị cáo xông vào dùng tay, chân và hung khí đánh anh A1 và anh Đ2, hậu quả anh A1 bị tổn thương cơ thể 12%. Hành vi cố ý tấn công gây hậu quả làm bị hại bị tổn thương 12% cơ thể của các bị cáo đã phạm tội Cố ý gây thương tích. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyển bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[4] Vể tình tiết định khung: Giữa bị hại và các bị cáo không có mâu thuẫn, tại Cơ quan điều tra, bị cáo Q xác định do nhận nhầm anh A1 là người trong nhóm đã tấn công bị cáo và bị cáo D vào tối các ngày 02 và 03/4/2023 nên đã hô hoán cả nhóm tấn công anh A1 và anh Đ2. Hành vi vô cớ tấn công bị hại của các bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Công cụ mà các bị cáo sử dụng để tấn công bị hại, ngoài chân, tay, các bị cáo đã sử dụng công cụ mang theo gồm kiếm, gậy ba khúc. Các công cụ mà các bị cáo sử dụng để tấn công bị hại được xác định là loại hung khí nguy hiểm. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của các bị cáo vi phạm điểm a “Dùng hung khí nguy hiểm” và điểm i “Có tính chất côn đồ” quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự để xét xử các bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D rủ rê, lôi kéo các bị cáo Bùi Văn Đ, Trần Văn T6, Ngô Văn H4, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3 đều là người chưa thành niên cùng đi thực hiện hành vi phạm tội nên cùng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại giai đoạn điều tra, các bị cáo và người đại diện của các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại và đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Như vậy, bản án sơ thẩm áp dụng các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về phân hóa vai trò của các bị cáo: Các bị cáo Trần Bá QLê Đức D là người khởi xướng, chuẩn bị hung khí và trực tiếp sử dụng hung khí tấn công bị hại. Các bị cáo Ngô Văn H4, Trần Văn V, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3Bùi Văn Đ cùng tham gia tấn công bị hại với các bị cáo Q, D. Các bị cáo Trần Văn T6Đỗ Tấn H5 sử dụng phương tiện chở các bị cáo khác đến địa điểm mà không trực tiếp tham gia tấn công bị hại, sau đó lại chở đồng bọn tẩu thoát. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá các bị cáo QD có vai trò ngang nhau và cao nhất trong vụ án; các bị cáo H5, V, Đ1, T3Đ có vai trò ngang nhau và đứng thứ hai trong vụ án; các bị cáo T6H5 có vai trò thấp nhất trong vụ án là có căn cứ.

[7] Về tính chất của vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm hại đến sức khỏe của bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây dư luận tại địa phương. Trong thởi gian gần đây, tình trạng sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn đang có chiều hướng gia tăng tại các địa phương. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nhiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Về mức hình phạt:

[8.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào vai trò, nhân thân của các bị cáo trên cơ sở đó quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo từ 24 đến 36 tháng tù là có sự phân hóa, cơ bản phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[8.2] Đối với bị cáo Trần Văn T6 không trực tiếp tham gia cùng các bị cáo khác tấn công bị hại. Đối với các bị cáo Bùi Văn ĐNgô Văn H4 đã cùng các bị cáo khác trực tiếp tấn công bị hại, nhưng chỉ dùng chân tay, không sử dụng hung khí. Mặt khác khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Trần Văn T6Bùi Văn Đ mới hơn 16 tuổi, bị cáo Ngô Văn H4 mới hơn 17 tuổi 01 tháng. Do vậy, mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là nặng, không tương xứng với vai trò của bị cáo trong vụ án.

[9] Về kháng cáo xin được hưởng án treo: Các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ. Mặt khác, đối với các bị cáo Trần Bá Q, Bùi Văn ĐTrần Văn T6 đều đã bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích. Do vậy, mặc dù các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tính chất vụ án là nghiêm trọng, việc cho các bị cáo được hưởng án treo sẽ gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo về việc xin được hưởng án treo của các bị cáo.

[10] Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4Trần Văn T6. Như vậy, cần sửa Bản án sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng theo hướng giảm mức án đối với bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4Trần Văn T6; giữ nguyên mức án đối với các bị cáo còn lại.

[11] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.

[12] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Đỗ Tấn H5, Trịnh Văn Đ1Đỗ Văn T3 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4Trần Văn T6 được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chỉu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Đỗ Tấn H5, Trịnh Văn Đ1Đỗ Văn T3; giữ nguyên phần hình phạt đối với các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Đỗ Tấn H5, Trịnh Văn Đ1Đỗ Văn T3 tại Bản án sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng:

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3, Đỗ Tấn H5;

    Áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D;

    Áp dụng thêm Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn T3.

    Tuyên bố các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3, Đỗ Tấn H5 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt:

    • - Bị cáo Trần Bá Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày 16/8/2023).
    • - Bị cáo Lê Đức D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
    • - Bị cáo Trịnh Văn Đ1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
    • - Bị cáo Đỗ Văn T3 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
    • - Bị cáo Đỗ Tấn H5 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4Trần Văn T6; Sửa một phần bản án về phần hình phạt đối với các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4Trần Văn T6 tại Bản án sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng:

    Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4, Trần Văn T6;

    Áp dụng thêm Điều 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4, Trần Văn T6.

    Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4, Trần Văn T6 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt:

    • - Bị cáo Bùi Văn Đ 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày 16/8/2023).
    • - Bị cáo Ngô Văn H4 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
    • - Bị cáo Trần Văn T6 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (Bị cáo được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/6/2023 đến ngày 16/8/2023).
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
    • - Các bị cáo Trần Bá Q, Lê Đức D, Đỗ Tấn H5, Trịnh Văn Đ1, Đỗ Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Các bị cáo Bùi Văn Đ, Ngô Văn H4, Trần Văn T6 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;;
  • - Công an huyện Thuỷ Nguyên;
  • - TAND huyện Thuỷ Nguyên;
  • - Trại tạm giam, Công an TPHP;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 82/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger