|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HS-PT Ngày 24 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thám
Các Thẩm phán: Ông Lưu Hữu Giàu và bà Ngô Ngọc Phỉ.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 143/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo Phan Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo Phan Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Phan Thanh T, sinh năm 1978, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Phan Thanh B (đã chết) và bà Trương Thị X; vợ là Võ Thị K và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/10/2023 cho đến nay, hiện đang tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hồ Trung C, là Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, (có mặt).
Địa chỉ văn phòng: Số A, Võ Văn T1, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Tổ 29, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị hại:
Ông Tô Văn L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Cha là ông Tô Văn H, sinh năm 1969, mẹ là bà Phạm Thị L1, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.(ông H vắng mặt, bà L1 có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Văn H và bà Phạm Thị L1 là ông Tô Thanh S, sinh năm 2000; nơi cư trú: Áp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024), (có mặt).
Ông Lương Hoàng T2, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Ông Trần Thiện T3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Bà Lê Thị H1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị H1 là ông Trần Thiện T3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang – là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 19/12/2023), (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 06/10/2022, Phan Thanh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67L2-288.93, khi đến khu vực ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, T điều khiển xe qua trái thì va chạm vào mô tô biển kiểm soát 66B1-018.27 do ông Lương Hoàng T2 điều khiển chở ông Tô Văn L đang lưu thông hướng ngược lại, làm xe của ông T2 ngã trượt về bên trái va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 67L2-523.44 do ông Trần Thiện T3 điều khiển chở bà Lê Thị H1 (vợ của T3) chạy cùng chiều sau xe của T. Hậu quả, L Tử vong, T, T3 và H1 bị thương tích nhẹ, riêng, T2 được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện, đến ngày 14/10/2022, ra viện.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tử thi phù hợp với nội dung vụ án như đã nêu trên.
Tang vật thu giữ gồm có: 01 xe mô tô biển kiểm soát 67L2-523.44; 01 xe mô tô biển kiểm soát 67L2-288.93; 01 mô tô biển kiểm soát 66B1-018.27 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 của ông Lương Hoàng T2.
Tại Kết luận giám định số: 29/KL-KTHS(CH-GT) ngày 20/11/2022 Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: Vết va chạm trên xe mô tô biển kiểm soát 66B1-018.27 có đặc điểm giống với đặc điểm của dấu vết va chạm trên xe mô tô biển kiểm soát 67L2-288.93; dấu vết va chạm trên xe mô tô biển kiểm soát 66B1-018.27 có đặc điểm giống với đặc điểm của dấu vết va chạm trên xe mô tô biển kiểm soát 67L2-523.44; cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên xe mô tô biển kiểm soát 66B1-018.27, xe mô tô biển kiểm soát 67L2-288.93 và xe mô tô biển kiểm soát 67L2-523.44, là do tác động quá trình cơ học.
Tại Kết luận giám định pháp y số: 388/22/TT ngày 07/10/2022, Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh A kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Tô Văn L: Chấn thương sọ não nặng, vỡ toác sọ, phòi mất mô não.
Tại Kết luận giám định pháp y số: 861/23/KLTT-TTPY ngày 29/12/2023, Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh A kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Lương Hoàng T2 do tất cả thương tích gây nên là 34%.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 67/KL- HÐÐG.TTHS ngày 19/10/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: Tổng giá trị thiệt hại chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 66B1-018.27 là 2.305.000đồng, 67L2-523.44 là 750.000đồng. Tổng cộng 3.055.000đồng.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo T cùng ông T2 đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 48.500.000đồng (trong đó có 40.000.000đồng do ông T2 hỗ trợ chi phí mai táng). Ông Tô Thanh S (người đại diện theo ủy quyền của ông Tô Văn H và bà Phạm Thị L2) đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì khác, đồng thời có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.
Tại Cáo trạng số: 26/CT-VKSCM ngày 28/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố Phan Thanh T về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, bị cáo Phan Thanh T có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Phan Thanh T thừa nhận có thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn luật định, nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung:
Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Phan Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phan Thanh T 03 (ba) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác, nên kháng cáo của bị cáo là không cơ sở xem xét.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Luật sư Hồ Trung C trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Bị cáo tuy không có giấy phép lái xe nhưng khi tham gia giao thông, bị cáo thấy sự nguy hiểm nên chủ động di chuyển tránh sang bên trái nên đã xảy ra tai nạn, cũng có một phần lỗi của ông T2 điều khiển xe ngược chiều nên vẫn đến tai nạn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo Phan Thanh T không bào chữa và cũng không tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Thanh T được nộp trong hạn luật định, có hình thức và nội dung đúng theo quy định của pháp luật, nên đủ điều kiện xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, ông Lương Hoàng T2, ông Trần Thiện T3, bà Lê Thị H1 (Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị H1 là ông Trần Thiện T3); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Nha T4 (Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Nha T4 là ông Lương Hoàng T2), vắng mặt. Đối với yêu cầu của Luật sư C đề nghị HĐXX hoãn phiên toà để triệu tập ông Lương Hoàng T2 phải có mặt. Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm ông T2 cũng như các bị hại khác không có kháng cáo coi như đồng ý bản án sơ thẩm và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Do đó đề nghị hoãn phiên toà của luật sư C không được chấp nhận, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung, xét thấy:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phan Thanh T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, nguyên nhân gây tai nạn và hậu quả gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tử thi, kết luận giám định pháp y, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Phan Thanh T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phan Thanh T 03 (ba) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện.
[3]. Xét kháng cáo của bị cáo, nhận thấy:
[3.1]. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người đại diện của bị hại có đơn bãi nại để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.2]. Bị cáo Phan Thanh T là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân không có giấy phép lái xe nhưng lại điều khiển xe có dung tích lớn, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật. Hậu quả do bị cáo gây ra cho bị hại và gia đình bị hại là rất lớn, không gì bù đắp được. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm và có một mức hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3.3]. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 03 (ba) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện.
[3.4]. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo chỉ cung cấp đơn tường trình, giấy xác nhận và đơn bãi nại đều cùng ngày 20/10/2023, các tài liệu này đã được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, ngoài ra bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác, nên kháng cáo của bị cáo là không được chấp nhận.
[3.5]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thanh T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[4]. Đối với các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thanh T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Về án phí:
- Bị cáo Phan Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Phan Thanh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Thám |
Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 82/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Thanh T Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
