|
TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/DSST
Ngày: 24/5/2024
V/v: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc S và bà Trần Thị O
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Bùi Hoàng T– Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 179/2023/TLST- DS ngày 26/12/2023 về việc “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng” giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V1 (V2)
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch HĐQT.
Đại diện tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thủy T – Chuyên viên xử lý nợ - Có mặt.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Phương L, sinh năm 1970 – Vắng mặt
Nơi ĐKNKTT: Khu N, xã V, huyện Đ, Phú Thọ.
Nơi ở hiện nay: Phòng 1037 Nhà C6 khối 2, ĐKTM M, tổ A, phường C, quận N, Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Lưu Văn T1, sinh năm 1960
Chị Lưu Hồng V, sinh năm 1995 (con gái ông T1)
Anh Lưu Tuấn N, sinh năm 2005 (con trai ông T1)
Cháu Lưu Văn Q, sinh năm 2010 (con trai chị V)
Cùng địa chỉ: Số D ngõ D phố C, tổ H, phường C, quận Đ, Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1975.
Nơi ĐKNKTT: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 15/06/2019 bà Phạm Thị Phương L đã ký kết với V2 Hợp đồng cho vay số LN1906061440409, nội dung Hợp đồng thỏa thuận: Số tiền vay 2.400.000.000 đồng. Thời hạn cho vay 120 tháng (Bắt đầu từ ngày 15/06/2019 đến 15/06/2029). Mục đích: Vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình. Lãi suất và kỳ điều chỉnh: Lãi suất cho vay (trong hạn) tại thời điểm giải ngân là: 9.9%/năm (lãi suất được tính theo năm, một năm là 365 ngày). Cơ chế điều chỉnh lãi suất cho vay trong hạn: Trong khoản thời gian 06 tháng kể từ ngày 15/06/2019. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn 03 tháng, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 15/09/2019, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/10/2019. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng có nhân kỳ hạn 120 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 1,5%/năm. Mức lãi suất điều chỉnh tối đa là 9,9%/năm. Sau khoảng thời gian như quy định nêu trên, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01/ 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 15/12/2019, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/01/2020. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng có nhân kỳ hạn 120 tháng được bên ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3,7%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn, áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 7G-IV-09, diện tích 20.8 m², tại số D, ngõ D, phố C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 228890, số vào sổ cấp GCN CS46953 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 18/09/2018 cho bà Phạm Thị Phương L.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Bà Phạm Thị Phương L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với V2, nên toàn bộ dư nợ còn lại của khoản nợ trong Hợp đồng cho vay chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 15/10/2019 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận. Tạm tính đến ngày 24/01/2024, bà Phạm Thị Phương L đã thanh toán cho V2 tổng số tiền 121.342.383 đồng, trong đó trả nợ gốc 60.000.000 đồng và trả nợ lãi 61.342.383 đồng.
Tạm tính đến ngày 24/01/2024, bà Phạm Thị Phương L còn nợ V2 số tiền là 4.738.447.944 đồng trong đó: Nợ gốc phải trả là 2.340.000.000 đồng, L1 phải trả là 1.964.916.685 đồng và lãi chậm trả là 433.531.259 đồng.
V2 đề nghị Toà án giải quyết buộc bà L phải thực hiện nghĩa vụ như sau:
Buộc bà Phạm Thị Phương L phải thanh toán cho V2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các theo Hợp đồng cho vay đã ký kết giữa Ngân hàng và bà L. Tạm tính đến 24/01/2024, bà Phạm Thị Phương L còn nợ V2 số tiền là 4.738.447.944 đồng trong đó: Nợ gốc phải trả là 2.340.000.000 đồng, L1 phải trả là 1.964.916.685 đồng và lãi chậm trả là 433.531.259 đồng và toàn bộ lãi phát sinh cho đến ngày tất toán hết khoản nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.
T2 bà L không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, bà Phạm Thị Phương L có nghĩa vụ phải tiếp tục trả nợ cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ.
Bị đơn bà L trình bày: Bà thừa nhận có vay của V2 số tiền là 2.400.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay số LN1906061440409 ngày 15/06/2019. Nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, tài sản bảo đảm đã thế chấp như Ngân hàng trình bày là đúng.
Sau khi vay vốn, do bà gặp khó khăn trong kinh doanh nên chưa thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng đúng hạn.
Nay Ngân hàng khởi kiện, bà đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện giãn nợ và miễn một phần lãi cho bà. Trường hợp không thanh toán được thì đề nghị Ngân hàng phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ.
Bà xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc như hoà giải, công khai chứng cứ, thẩm định, đối chất…………xét xử tại Toà án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Ông T1 trình bày: Năm 2017 ông có nhu cầu vay vốn để làm ăn nên có người quen giới thiệu bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Q, Thái Bình giúp ông vay vốn Ngân hàng. Ông có gặp bà H và bà H đã nhận lời giúp, bà H nói để vay Ngân hàng phải có tài sản thế chấp. Do đó, ông và bà H có ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ nhà, đất là thửa 11, tờ bản đồ số 7G-IV-09 tại số D ngõ D phố C, phường C, Đ, Hà Nội (đây là tài sản của cá nhân ông T1), Hợp đồng được lập thành văn bản được ký kết giữa ông, vợ ông T1 là bà Đào Thị Kim T3 và bà Nguyễn Thị Kim H. Hợp đồng được ký vào ngày 19/4/2017 trên cơ sở tự nguyện có công chứng, chứng thực tại Văn phòng C. Địa chỉ số G đường K, phường T, T, Hà Nội, mục đích để bà H thế chấp vay vốn Ngân hàng giúp ông T1, giá trị của Hợp đồng là 500.000.000 đồng. Sau khi ký Hợp đồng thì bà H có đi thế chấp Ngân hàng (Ngân hàng nào thì ông không rõ) sau đó bà H đưa cho ông T1 3 lần tiền tổng cộng là 500.000.000 đồng đúng như giá trị hợp đồng đã ký kết.
Nay Ngân hàng khởi kiện bà L ông có ý kiến như sau: Ông không biết và không liên quan đến các giao dịch giữa Ngân hàng và bà L và giao dịch giữa bà H và bà L, vì ông không biết bà L là ai và không biết thế chấp Ngân hàng nào. Ông chỉ thực hiện giao dịch chuyển nhượng nhà đất trên để bà H thế chấp vay vốn Ngân hàng còn số tiền bà H đưa cho tôi thì tôi có trách nhiệm trả nợ cho bà H.
Ông không khởi kiện ai đối với các giao dịch trên, ông cũng không khởi kiện bà H, bà L trong vụ án này.
Hiện nay trên đất có những người sau đang sinh sống: Ông Lưu Văn T1, chị Lưu Hồng V, anh Lưu Tuấn N và cháu Lưu Văn Q, bà Đào Thị Kim T3 (vợ của ông T1) đã chết ngày 23/5/2023.
Hiện nay con và cháu ông T1 đều biết sự việc Ngân hàng khởi kiện bà L và có nhận được các văn bản của Toà án, tuy nhiên các cháu đều không liên quan đến các giao dịch và cũng không liên quan đến nhà, đất trên đề nghị Toà án không đưa các cháu vào tham gia vụ án và các cháu rất bận đi làm nên không có mặt trong các buổi làm việc tại Toà án. Ngoài ra hiện nay sức khoẻ của ông không đảm bảo nên ông xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như xét xử tại Toà án các cấp. Ông đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Toà án đã triệu tập hợp lệ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Chị Lưu Hồng V, anh Lưu Tuấn N, cháu Lưu Văn Q, bà Nguyễn Thị Kim H nhưng đều vắng mặt không lý do. Do đó, Toà án không lấy được lời khai của họ.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bà Phạm Thị Phương L phải trả cho V2 tổng số tiền tính đến ngày 24/5/2024 là 4.472.544.305 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 2.340.000.000 đồng, tiền lãi 2.123.164.795 đồng, tiền lãi chậm trả: 9.379.510 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 25/5/2024 cho đến khi bà L tất toán xong toàn bộ số nợ phải trả, lãi suất tính theo hợp đồng cho vay đã ký.
Trường hợp bà L không trả được nợ thì đề nghị HĐXX tuyên bố Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nơk. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Phạm Thị Phương L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được HĐXX thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 BLTTDS.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan : Bà H, chị V, anh N, cháu Q không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị Phương L phải trả cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền tính đến ngày 24/5/2024 tổng số tiền là 4.472.544.305 đồng, trong đố tiền nợ gốc là 2.340.000.000 đồng, tiền lãi 2.123.164.795 đồng, tiền lãi chậm trả: 9.379.510 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 25/5/2024 cho đến khi bà L tất toán xong toàn bộ số nợ phải trả, lãi suất tính theo hợp đồng cho vay đã ký.
Trường hợp bà L không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 7G-IV-09. Diện tích: 20,8m². Tại số D, ngõ D, phố C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà L đối với V2. Nếu số tiền thu được từ bán xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Phạm Thị Phương L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cùng các tài liệu Tòa án xác minh thu thập được xác định đây là vụ án dân sự tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng. Nơi cư trú của bị đơn tại phường C, quận N, thành phố Hà Nội. Do vậy, việc Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung: Ngày 15/06/2019 bà Phạm Thị Phương L đã ký kết với V2 Hợp đồng cho vay số LN1906061440409, nội dung Hợp đồng thỏa thuận: Số tiền vay 2.400.000.000 đồng. Thời hạn cho vay 120 tháng (Bắt đầu từ ngày 15/06/2019 đến 15/06/2029). Ngoài ra hợp đồng còn thỏa thuận về lãi suất, thời hạn và cách thức trả nợ, điều chỉnh lãi suất...Ngân hàng đã giải ngân, bà L đã nhận được tiền vay.
Tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 7G-IV-09. Diện tích: 20,8m². Tại số D, ngõ D, phố C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội. Nhà, đất và tài sản trên đất đã được cấp giấy chứng nhận mang tên bà L. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm.
Đến nay, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận về nội dung, hình thức của hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp được ký kết tự nguyện, tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, các bên tự nguyện thực hiện, không có ý kiến gì về các hợp đồng đã ký kết và thỏa thuận. Bị đơn thừa nhận số tiền còn phải trả, lãi suất và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được bị đơn xác nhận và chấp nhận toàn bộ. Đây là chứng cứ không phải chứng minh. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở được chấp nhận.
Buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng TMCP V1 tổng số tiền là tính đến ngày 24/5/2024 tổng số tiền là 4.472.544.305 đồng, trong đố tiền nợ gốc là 2.340.000.000 đồng, tiền lãi 2.123.164.795 đồng, tiền lãi chậm trả: 9.379.510 đồng và tiền lãi phát sinh tính theo ngày 25/5/2024 cho đến khi bà L tất toán xong toàn bộ số nợ phải trả, lãi suất tính theo hợp đồng cho vay đã ký. Nếu bà L không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 7G-IV-09. Diện tích: 20,8m². Tại số D, ngõ D, phố C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội. Số tiền phát mại không đủ trả nợ thì bà L phải trách nhiệm trả hết số tiền còn thiếu theo quy định.
Về ý kiến của ông T1 hiện đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp: Ông T1 khẳng định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 7G-IV-09. Diện tích: 20,8m². Tại số D, ngõ D, phố C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội có nguồn gốc trước đây là của ông. Do ông có nhu cầu vay vốn Ngân hàng nên ông đã thỏa thuận tự nguyện, ông có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Kim H để thế chấp vay vốn Ngân hàng. Thực tế ông đã nhận được số tiền 500.000.000 đồng. Ông không biết vay Ngân hàng nào, bà L ông cũng không biết. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L phải trả số tiền nợ vay của Ngân hàng, nếu không trả được nợ thì đề nghị phát mại tài sản là nhà, đất hiện nay ông đang quản lý, ông đê nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Xét lời trình bày của ông T1 HDXX xét thấy: Việc ông T1 có nhu cầu thế chấp vay vốn tại Ngân hàng là có thật, sau đó ông T1 không trực tiếp vay vốn và thế chấp tài sản của mình mà thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Kim H, sau đó bà H lại chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Phương L. các giao dịch này các bên thực hiện công khai, tự nguyện và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, được cơ quan có thẩm quyền công nhận và điều chỉnh biến động mang tên mà Phạm Thị Phương L. Sau đó bà Phạm Thị Phương L thế chấp và vay vốn tại Ngân hàng TMCP V1. Việc nhận thế chấp và cho vay tiền giữa Ngân hàng TMCP V1 và bà L là ngay tình, tuận thủ đầy đủ quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý. Do bà H vắng mặt, ông T1 không có ý kiến gì nên HĐXX giành quyền khởi kiện vụ án về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại số D, ngõ D, phố C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội đối với những người có liên quan khi có yêu cầu.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định, trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 292, 295, 298, 299, 323, 463, 466, 688 BLDS năm 2015; Điều 26, 35, 147, 157 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 đối với bà Phạm Thị Phương L. Buộc bà Phạm Thị Thanh L2 thanh toán cho Ngân hàng TMCP V1 số tiền tạm tính đến ngày 24/5/2024 tổng số tiền là 4.472.544.305 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 2.340.000.000 đồng, tiền lãi 2.123.164.795 đồng, tiền lãi chậm trả: 9.379.510 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 25/5/2024 cho đến khi bà L2 tất toán xong toàn bộ số nợ phải trả, lãi suất tính theo hợp đồng cho vay đã ký.
Trường hợp bà L2 không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 7G-IV-09. Diện tích: 20,8m². Tại địa chỉ số D, ngõ D, phố C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 228890, số vào sổ cấp GCN CS46953 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 18/09/2018 cho bà Phạm Thị Phương L.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà L đối với V2. Nếu số tiền thu được từ bán xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Phạm Thị Phương L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V2. Tài sản bảo đảm đưa ra xử lý theo diện tích, kích thước thực tế tại thời điểm xử lý tài sản.
Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Phương L phải nộp 112.472.544 đồng tiền án phí DSST. Trả lại Ngân hàng TMCP V1 40.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0004222 ngày 27/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 82/2024/DSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 82/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VPBANK- PHẠM THỊ PHƯƠNG LAN
