|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 22 tháng 8 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hải;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Miện;
2. Ông Lê Văn Đô.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 22/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 06/8/2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lại Quốc Đ; sinh năm 1996 Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang
- Họ và tên: Vũ Văn T1; sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12;
Con ông Lại Quốc Đ1(Đã chết) và bà Nguyễn Thị T(Đã chết); Vợ: Lê Thị H năm 2001; Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021). Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 5.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên toà).
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.
Con ông Vũ Văn H1, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị L sinh năm 1958; Vợ: Hà Thị H2sinh năm 1984 (Đã ly hôn) Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên toà).
* Người bào chữa cho bị cáo T1: Ông Giáp V Đ2Luật sư thuộc Công ty L1Đoàn Luật sư tỉnh B chỉ công ty L1: Số F, phố N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc G năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh G Ông Nguyễn Ngọc T2 sư thuộc Văn phòng L2(Có mặt)
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Lại Ngọc A(Đặng Ngọc Alsinh ngày 06/8/2010 (Vắng mặt)
- Chị Lại Thị T3 năm 1983 (Có mặt).
- Chị Nguyễn Thị N1 năm 1994 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang
- Người đại diện hợp pháp cho cháu N A2 Chị Lại Thị T3sinh năm 1983 (Mẹ cháu N A2; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N A2:
Ông Giáp Văn Đ2– Luật sự thuộc Trung tâm T18 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T4 năm 1969; Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện H, Bắc Giang (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn D năm 1981; Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện H, Bắc Giang (Vắng mặt).
- Bà Lê Thị H2 năm 1944; Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện H, Bắc Giang(Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T5 năm 1962; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang(Vắng mặt).
- Cháu Nguyễn C H4sinh ngày 15/4/2009; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang (Vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Phi T6sinh ngày 12/5/2010; Địa chỉ: Thôn S, xã Đ, huyện H, Bắc Giang (Vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Minh Q ngày 08/6/2010; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang (Vắng mặt).
- Cháu Tạ Văn D2sinh ngày 24/6/2010; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang(Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu H3: Chị Nguyễn Thị M(là mẹ cháu H4 chỉ: Thôn T, xã Đ - H- Bắc Giang(Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu T6Anh Nguyễn P T7sinh năm 1977 (là bố cháu T6 chỉ: Thôn S, xã Đ, huyện H, Bắc Giang(Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu Q1 năm 1982 (là bố cháu QĐịa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang(Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu D1: Chị Nguyễn Thị H5 sinh năm 1965 (là mẹ cháu D2 Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện H, Bắc Giang(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 26/9/2023, Nguyễn Ngọc G năm 1989 trú tại: thôn T, xã Đ, huyện H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20G1- 132.40 đến trường Mầm non X để đón con thì gặp cháu Lại Ngọc A, sinh ngày 06/8/2010 (tên gọi khác Đặng Ngọc A1) đang đi bộ cùng các bạn là Nguyễn Trung H6sinh năm 2009; Nguyễn Minh Q năm 2010 đều ở thôn T, xã Đ Nguyễn Phi T6sinh năm 2010 và Tạ Văn D2sinh năm 2010 đều ở thôn S, xã Đ với G. Theo Gtrình bày: khi gặp cháu N A2G nghe thấy tiếng cháu N A2chửi nên điều khiển xe mô tô quay lại và nói “Mày thích chửi không” rồi dùng chân trái đạp một cái trúng vào phần chân của cháu N A2. Thấy vậy, cháu N A2bỏ chạy về hướng Ủy ban nhân dân xã Đ vẫn tiếp tục chửi “Mày thích gì, mày muốn gì”. Gđiều khiển xe mô tô đuổi theo cháu N A2 khoảng 2m thì dừng lại tại khu vực trước cửa nhà chị Lưu Thị T7 năm 1974 ở thôn T, xã Đ, huyện H thì đuổi kịp cháu N A2 Gđứng đối diện, dùng tay trái giữ bên vai phải cháu N A2rồi dùng tay phải tát một cái trúng vào phần má trái cháu N A2Sau khi bị G2, cháu N A2về nhà kể lại cho gia đình biết. Lúc này Vũ Văn T1sinh năm 1985 là bố dượng của cháu N A2 bảo Lại Quốc Đ3 năm 1996 là cậu ruột của cháu N A2 đưa cháu N A2đến Trạm y tế xã Đcòn chị Lại Thị T3sinh năm 1983 là mẹ của cháu N A2 gọi điện đến Công an xã Đtrình báo sự việc. Sau khi cháu N A2 khám tại trạm y tế xã, đã được nhân viên y tế của Trạm hướng dẫn lên khám ở tuyến trên, do vậy Được gọi điện cho chị T3thông báo lại, chị T3đã bảo T1 điều khiển xe ô tô biển số 98A- 454.26 cùng với chị T3đến Trạm y tế xã để đón cháu N A2 và Được xuống Bệnh viện đa khoa Sơn Uyên huyện H. Trên đường đi qua khu vực cổng trường Mầm non Đ16 khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Vũ Văn T8 thấy anh G đang ngồi trên xe mô tô, T1 xuống xe, đi bộ về phía anh G3 “Sao mày đánh con tao”, đồng thời Đ cũng đi đến hỏi anh G“Sao đánh Ngọc A và Đ4 tay phải đấm vào mặt và người Glúc này Tlcũng lao vào dùng tay phải đấm G; thời điểm này cháu N A2cầm theo tuýp sắt bằng kim loại dài 54cm, đường kính 2,5cm đi về phía Được đang
đánh anh G4 lùi lại dùng tay phải giằng tuýp sắt trên tay cháu N A2 rồi Được tiến đến đứng đối diện anh G5 khoảng 1m, dùng gậy vụt khoảng 04 đến 05 cái trúng vào mặt, đầu của GGvà Đ5 tục giằng co nhau làm chiếc tuýp sắt của Đ6 rơi, cháu N A2nhặt lại tuýp sắt rồi dùng tuýp vụt trúng chân G, sau đó cháu N A2 bị ngã sước vùng khuỷu tay bên phải. Trong lúc đánh nhau Tlchạy ra xe ô tô lấy 01 chiếc xẻng mini bằng kim loại dài 54cm, chỗ rộng nhất của lưỡi xẻng là 11,5cm rồi quay lại chỗ Được và anh G6 xô sát, T1đứng phía sau, anh G6 khom lưng, tay phải T9 cầm phần chuôi xẻng vụt phần lưỡi xẻng vào lưng G khoảng 04 cái. Đến khi nhìn thấy mặt anh G7 máu và nghe thấy chị T3cùng người dân can ngăn nên mọi người dừng lại không đánh nhau nữa.
Anh Nguyễn Ngọc G8 mọi người đưa đến Bệnh viện Đ17, tỉnh Thái Nguyênđiều trị từ ngày 26/9/2023 đến ngày 10/10/2023 ra viện.
Cháu N A2được đưa đến điều trị tại Bệnh viện T12từ ngày 26/9/2023 đến ngày 01/10/2023 ra viện; sau đó tiếp tục điều trị tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh B ngày 12/10/2023 đến ngày 24/10/2023 ra viện.
Ngày 26/9/2023, Lại Quốc Đ7 nộp cho Công an xã Đ01 tuýp sắt bằng kim loại màu trắng, dài 54cm, đường kính 2,5cm; 01 xẻng mini bằng kim loại màu đồng ánh kim, dài 54cm, chiều rộng tại chỗ rộng nhất 11,5cm và 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitsubisi Outlander biển kiểm soát 98A- 454.26.
Ngày 28/9/2023, chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1994 là vợ của anh G9 nộp cho Công an xã Đ01 xe mô tô biển kiểm soát 20G1- 132.40 và làm đơn trình báo gửi Công an xã Đ18.
Ngày 27/9/2023 và ngày 30/9/2023 chị Nguyễn Thị T10 năm 1984 ở thôn T, xã Đ, huyện H trưởng trường mầm non xã Đđã giao nộp cho Công an xã Đ01 đĩa DVD chứa video ghi lại hình ảnh vụ đánh nhau giữa anh G10 các bị cáo T1Được vào ngày 26/9/2023 ở khu vực cổng trường Mầm non xã Đ.
Ngày 03/10/2023, Công an xã Đ báo và toàn bộ vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H.
Ngày 23/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H được đơn yêu cầu khởi tố hình sự của chị Lại Thị T11(là mẹ đẻ của cháu N A2đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G11 đánh cháu N A2.
Tại Bệnh án ngoại khoa số 11461 ngày 10/10/2023 của Bệnh viện đa khoa huyện Đ Nguyễn Ngọc G12 viện: Đau nhức, sưng nề vùng hàm mặt, vùng chẩm, vùng lưng, đau nhức cánh tay trái. Vùng đỉnh chẩm sưng nề đau nhói, vùng gó má hốc mắt trái bầm tím sưng to, vùng môi miệng dưới sưng nề bầm tím rỉ máu. Toàn bộ vùng lưng sưng nề có nhiều vết chày sước. Cánh cẳng tay trái sưng nề, đau nhức.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống của anh Nguyễn Ngọc G11 số 1885/KLTTCT-TTPY ngày 12/11/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện Đ19, kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích vết sẹo mổ bờ ngoài ổ mắt trái kích thước nhỏ + Vết sẹo mổ kích thước nhỏ bờ dưới ổ trái + Vết sẹo mổ ngách tiền đình hàm trên kích thước nhỏ + Gãy thành trước, thành sau xoang hàm trái, cung tiếp xương gò má trái, thành sau hốc mắt trái + CT Scanner sọ não hàm mặt: Hình ảnh vỡ thành trước, thành ngoài xoang hàm trái, vỡ thành ngoài ổ mắt trái, gãy cung tiếp gò má trái, đã can: 26%.
- Thương tích vết sẹo trung bình vùng lưng kích thước (15 x 0,3) cm: 2%.
- Thương tích vết sẹo trung bình vùng lưng kích thước (8 x 0,3) cm: 2%.
- Thương tích vết sẹo trung bình vùng lưng kích thước (3,5 x 0,5) cm: 2%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc G13 thời điểm giám định là 30% (Ba mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 1885B/KLTTCT- TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm pháp y, kết luận: Một gậy sắt bằng kim loại, sáng màu, hình trụ tròn, đã qua sử dụng. Dài 54cm, đường kính 2,5cm. Là vật tày gây được các thương tích.
Một chiếc xẻng mini bằng kim loại, lưỡi xẻng sáng màu, mặt ngửa xẻng mạ sơn màu nâu, cán hình trụ tròn, màu đồng ánh kim, xẻng đã qua sử dụng, dài 54cm, chiều rộng tại nơi rộng nhất là 11,5cm. Cán xẻng là vật tày, lưỡi xẻng là vật sắc, mũi xẻng là vật sắc nhọn, cạnh bên xẻng là vật sắc nhọn, một cạnh bên còn lại của xẻng là vật sắc dạng răng cưa. Là vật gây được thương tích.
Hai mẫu vật gửi giám định gây được các thương tích. Gậy sắt và chiếc xẻng có đặc điểm như trên gửi giám định là vật gây được thương tích cho Nguyễn Ngọc G11(BL số 87-88).
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể sống của cháu Đặng Ngọc Al số 11959/KLTTCT-TTPY ngày 18/12/2023, Trung tâm pháp y Bệnh viện Đ19, kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Thương tích chạm thương vùng cổ phải không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích chạm thương vùng vai – nách trái không còn dấu vết: 0%.
- Thương tích vết sẹo nông khuỷu tay phải kích thước trung bình: 2%.
- Thương tích chấn động não + Điện não đồ: Hoạt động dạng chấn động não: 6%.
- Kết luận:
- Kết luận khác:
Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Ngọc A1 tại thời điểm giám định là: 8% (T10phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Cơ chế, vật gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên.
Ngày 28/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 13/QĐ đối với thương tích của Đ20
Tại Kết luận giám định bổ sung số 2009/24/KLBSHS-PY ngày 09/01/2024, Trung tâm giám định pháp y, kết luận: Dựa vào hồ sơ, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra và Bản ảnh thực nghiệm điều tra kết luận: Với tư thế, động tác theo lời khai của Nguyễn Ngọc G14 được thương tích chấn động não như bệnh án mô tả. Không gây được các thương tích: 02 vết xây sát vai-nách trái dài ~ 5cm. 01 vết xây sát cổ phải kích thước ~ 2x1cm. 01 vết xây sát khuỷu tay phải kích thước ~ 2x3 cm như bệnh án mô tả.
Với tư thế, động tác theo lời khai của Đặng N3 Algây được các thương tích: Chấn động não, 02 vết xây sát vai-nách trái dài ~ 5cm. 01 vết xây sát cổ phải kích thước ~ 2x1cm như bệnh án mô tả. Không gây được thương tích 01 vết xây sát khuỷu tay phải kích thước ~ 2x3 cm như bệnh án mô tả.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Quyết định trưng cầu số 416/QĐ-CSHS Vgiám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Ngọc Al
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Đặng Ngọc A1 số 59/KL-TTCT-PYQG ngày 16/4/2024, Vban hành, kết luận:
- Các kết quả chính:
- Sẹo khuỷu tay phải kích thước trung bình.
- Chấn động não điều trị ổn định không thấy hình ảnh sóng điện não bất thường.
- Hình ảnh MRI sọ não – mạch não trong giới hạn bình thường.
- Các dấu hiệu thần kinh thực tổn chưa thấy bất thường.
- Biểu hiện rối loạn tâm thần trầm cảm nặng.
- Kết luận:
- Chấn động não điều trị ổn định: 02% (Hai phần trăm).
- Sẹo khuỷu tay phải kích thước trung bình: 02% (Hai phần trăm).
- Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đ21 thời điểm giám định là: 04% (Bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Cơ chế gây chấn động não do vật tày tác động trực tiếp vào vùng đầu, mặt với lực đủ gây tác động lên nhu mô não, không gây ra tổn thương thực thể ở tổ chức não; Các sẹo vùng khủy tay phải và các vết sây sát trên cơ thể do vật tày tác động trực tiếp với lực vừa đủ làm sây sát da, không xác định được chiều hướng tác động.
+ Đối với kết luận tại Trung tâm pháp y – Bệnh viện đa khoa tỉnh B trực tiếp giám định nên không có cơ sở nhận xét đánh giá kết luận giám định đã được thực hiện.
+ Có biểu hiện tổn thương rối loạn tâm thần sau chấn thương đề nghị giám định Pháp y Tâm thần để đánh giá.
Tại Kết luận giám định số 2230/KL-KTHS ngày 16/11/2023 của Phòng KCông an tỉnh Bkết luận:
Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của hai file video được lưu trữ trong hai đĩa DVD-P gửi giam định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thực nghiệm điều tra cho các bị cáo diễn lại hành vi, tư thế, động tác tấn công vào cơ thể người bị hại. Kết quả: Nguyễn Ngọc G15 diễn lại hành vi dùng tay phải tát vào má bên trái cháu N3 A2bị cáo Đ8 diễn lại hành vi dùng tuýp sắt bằng kim loại dài 54cm, đường kính 2,5cm vụt khoảng 04 đến 05 cái trúng vào mặt, đầu của G bị cáo T1đã diễn lại hành vi dùng 01 chiếc xẻng bằng kim loại dài 54cm, chỗ rộng nhất của lưỡi xẻng là 11,5cm vụt phần lưỡi xẻng vào lưng anh G16 04 cái.
Đối với hành vi dùng tuýp sắt đánh vào chân anh G của cháu N3 A2Tại thời điểm thực hiện hành vi, cháu N3 A2chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc G17: chị Lại Thị T12 lời nói kích động, hô hoán và dùng chân tay đánh Gcùng với T13. Cơ quan điều tra làm việc với chị T11, chị T11 không thừa nhận có lời nói kích động, hô hoán và dùng chân tay đánh anh GKết quả đối chất giữa anh G10 chị T3các bên đều giữ nguyên lời khai.
Về vật chứng và tài sản bị tạm giữ: 01 tuýp sắt bằng kim loại màu trắng, dài 54cm, đường kính 2,5cm; 01 xẻng mini bằng kim loại màu đồng ánh kim, dài 54cm, chiều rộng tại chỗ rộng nhất 11,5cm. 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi màu trắng, biển kiểm soát 98A- 454.26 đăng ký xe mang tên chị Lại Thị T14 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamsha, sirus biển kiểm soát 20G1- 132.40 đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Ngọc G11 đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa chị Lại Thị T15 các bị cáo V1 thống nhất bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc G11 số tiền 80.000.000 đồng. Đến nay, anh Nguyễn Ngọc G11 không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện H Nguyễn Ngọc G18 các bị cáo Vũ Văn T1Lại Quốc Đ9 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 66/CT-VKS-HH ngày 23/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Vũ Văn T16 Quốc Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Với 02 tình tiết định khung (dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ) theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự
Truy tố Nguyễn Ngọc G11 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm. Ngày 07/8/2024 bị hại là cháu Lại Ngọc A(tên gọi khác Đặng Ngọc Alvà người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Lại Thị T3có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Ngọc GNgày 08/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định đình chỉ xét xử đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G11
Tại phiên toà các bị cáo Vũ Văn T1Lại Quốc Đ9 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang nhất trí việc Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã đình chỉ xét xử đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G11 nên rút yêu cầu truy tố đối với Nguyễn Ngọc G11.
Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Vũ Văn T1 Lại Quốc Đ10 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự với 02 tình tiết định khung (dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ) theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54; Điều 38; của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54; Điều 38; của Bộ luật hình sự.
- Về tránh nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt Vũ Văn T1 từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt Lại Quốc Đ10 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 tuýp sắt bằng kim loại màu trắng, dài 54cm, đường kính 2,5cm; 01 xẻng mini bằng kim loại màu đồng ánh kim, dài 54cm, chiều rộng tại chỗ rộng nhất 11,5cm.
- Trả lại chị Lại Thị T11: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, Outlander màu trắng, biển kiểm soát 98A- 454.26.
- Trả lại anh Nguyễn Ngọc G11: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamsha, sirius biển kiểm soát 20G1- 132.40.
Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm. Ngày 07/8/2024 bị hại là cháu Lại Ngọc A(tên gọi khác Đặng Ngọc Alvà người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Lại Thị T3có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Ngọc GNgày 08/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định đình chỉ xét xử đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G11. Bị hại, đại diện của bị hại, người bào chữa cho bị hại, bị cáo không có ý kiến khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị đối với Q1đình định chỉ này. Tại phiên Tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát rút truy tố đối với Nguyễn Ngọc G11 về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Do vậy Hội đồng xét xử không xét xử đối với hành vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Ngọc G11 là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Luật sư Giáp V Đ2với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N3 A2(là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) có ý kiến: Đến nay cháu N3 A2đại diện cho cháu N3 A2đã rút đơn đề nghị truy tố đối với anh G18 các bên không có tranh chấp hay thắc mắc gì về dân sự nên Luật sư Đ2không có ý kiến gì thêm.
Qua đối đáp, tranh luận đại diện Viện kiển sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị. Không đồng ý với ý kiến của các luật sự bào chữa cho các bị cáo.
Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[ 2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không có lý do nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3]. Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G14 thương tích cho cháu Lại Ngọc A2 giai đoạn xét xử sơ thẩm, ngày 07/8/2024 bị hại là cháu Lại Ngọc A(tên gọi khác Đặng Ngọc Alvà người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Lại Thị T3có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Ngọc G27 vậy, ngày 08/8/2024 Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định đình chỉ xét xử đối với hành vi của Nguyễn Ngọc G11. Bị hại, đại diện của bị hại, người bào chữa cho bị hại, bị cáo không có ý kiến khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị đối với Q1đình định chỉ này. Tại phiên Tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát rút truy tố đối với Nguyễn Ngọc G11 về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Do vậy Hội đồng xét xử không xét xử đối với hành vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Ngọc G11 là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[4]. Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc bị hại là anh Nguyễn Ngọc G28 hành vi dùng tay đánh vào mặt cháu N3 A2bị thương (Cháu N3 A2gọi bị cáo T1là bố dượng và là cháu ruột bị cáo Đ) nên khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 26/9/2023 các bị cáo Tlvà Gđang trên đường đưa cháu N3 A2đi khám, khi qua khu vực cổng trường Mầm non X, huyện H anh G27 bực tức từ việc anh G2 cháu N3 A2nên N3 A2và các bị cáo Đ, T1 dùng tuýp sắt, chiếc xẻng mi ni bằng kim loại đánh anh G. Hậu quả làm anh G bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30%. Mặc dù thương tích các bị cáo gây ra cho người bị hại với tỷ lệ dưới 31%, nhưng các bị cáo dùng gậy sắt và xẻng bằng kim loại là hung khí nguy hiển đánh gây thương tích cho người bị hại nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố hành vi của các bị cáo phạm tội “có tính chất côn đồ”, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên nhân các bị cáo Tlbị cáo Đvà cháu N3 A2đánh anh G xuất phát từ việc trước đó anh G28 hành vi dùng tay đánh vào mặt cháu N3 A2là người dưới 14 tuổi bị thương nên khi các bị cáo đưa cháu N3 A2đi khám thì gặp anh G23 phần nào các bị cáo cũng bực tức do hành vi phái pháp luật của anh GHơn nữa, khi gặp anh G29 đầu bị cáo Đ và T1 chỉ đánh bằng tay không, đến khi Đ13 thấy cháu N3 A2cầm tuýt sắt đánh anh G30 Đmới giằng tuýt sắt từ cháu N3 A2để đánh anh G31 các bị cáo và anh G19 có mâu thuẫn gì, cũng không phải vô cớ đánh anh G32 nếu anh G19 đánh cháu N3 A2trước đó thì có lẽ cháu N3 A2và các bị cáo ĐT1cũng không đánh gây thương tích cho anh G. Do vậy, hành vi của bị cáo Tlvà Đ không có tính chất côn đồ như lời bào chữa của Luật sư Giáp Văn Đ2 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với hành vi của cháu N3 A2 cùng với bị cáo ĐT1dùng tuýp sắt đánh anh G T17 thời điểm thực hiện hành vi cháu N3 A2chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (đủ 14 tuổi) theo Điều 12 của Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng.
[5]. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện đối với anh G là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo là cố ý, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng trừng trị riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Tuy nhiên, đối với người bị hại là anh G cũng có lỗi và cần rút kinh nghiệm. Bởi, bản thân anh G21 người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực trách nhiệm hình sự nhưng khi gặp cháu N3 A2lại cho rằng cháu N3 A2chửi mình nên đã 2 lần thực hiện hành vi dùng tay, chân đạp và đánh vào mặt gây thương tích cho cháu N3 A2khi mới đủ 13 tuổi, nếu anh G không đánh cháu N3 A2 thì có thể hậu quả đáng tiếc không xảy ra như trong vụ án này.
[6] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chỉ mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội.
Trước khi thực hiện hành vi phạm tội cả 2 bị cáo đều đang đưa cháu N3 A2đi khám, khi gặp anh G33 hai bị cáo đều xuống xe và cùng thực hiện hành vi đánh anh G19 có người khởi xướng hay rủ rê bàn bạc gì. H7gây thương tích cho anh G34 do cả 2 bị cáo gây ra nên vai trò đồng phạm của 2 bị cáo thực hiện trong vụ án này là ngang nhau. Tuy nhiên, các thương tích trên người bị hại là do bị cáo Đ12 ra nhiều hơn so với bị cáo Tlnên bị cáo Đ14 chịu hình phạt nặng hơn.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; trong quá trình chuẩn bị xét xử các bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả theo thỏa thuận cho người bị hại, đến nay người bị hại không còn thắc mắc, yêu cầu bồi thường gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo T1đã từng tham gia quân đội và có giấy chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ quan sự; bị cáo Đ15 ông chú (Lại Văn T11là liệt sỹ và hiện tại bị cáo đang là người thờ cúng (có xác nhận của chính quyền địa phương) và được nhà nước trợ cấp tiền thờ cúng liệt sỹ; trong vụ án này bản thân bị hại cũng lỗi. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
[8]. Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự .
[9]. Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án.
[10] Tõ nh÷ng ph©n tÝch nhận định trên Hội đồng xét xử xÐt thÊy mức ®Ò nghÞ cña Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa lu phï hîp. Vì xét néi dung, tÝnh chÊt, nguyên nhân, møc ®é lçi vụ hÊu qu¶ do hµnh vi ph¹m téi cña bÞ co g©y ra; b¶n th©n cha cã tiònn, tiòn sù, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51. Bản thân người bị hại cũng có một phần lỗi như đã phân tích nhận định ở trên nên Héi ®ång xĐt xô cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn đối với các bị cáo.
Mặc dù các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, coi thường sức khoẻ của người khác nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn ®èi víi các bÞ ço như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cã nh vËy mái ®ñ ®iÒu kiÖn để các bÞ ẹo sửa chữa lçi lẹm cña m×nh. Do vậy, quan điểm bào chữa của Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tlso với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.
[11]. Quá trình điều tra bị hại là anh G khai: Chị Lại Thị T3có lời nói kích động, hô hoán và dùng chân tay đánh anh GCơ quan điều tra làm việc với chị T3chị T3không thừa nhận có lời nói kích động, hô hoán và dùng chân tay đánh anh G35 quả đối chất giữa Gvà chị T3các bên đều giữ nguyên lời khai; những người làm chứng có mặt đều xác định không nghe thấy chị T3có hành vi đánh anh G36 có lời nói kích động gì. Ngoài lời khai của anh G37 không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện chị T3có lời nói kích động, hô hoán và trực tiếp đánh GBản thân các bị cáo T1Đvà cháu N3 A2cũng khai chị T3không tham gia đánh, không hô hoán hay có lời nói kích động nào nên không có căn cứ xác định chị T11 là đồng phạm trong vụ án này.
[12] Về Trách nhiệm dân sự:
- Giữa các bị cáo và ngêi bÞ hỏi đã tự thỏa thuận với nhau xong mức bồi thường, nay người bÞ h¹i kh«ng yêu cÇu bồi thường gì khác nên kh«ng ®Æt ra xem xÐt gi¶i quyÕt.
- Đối với cháu Lại Ngọc A3 thương tích do hành vi của Nguyễn Ngọc G14 ra. Bản thân bị hại và đại diện của bị hại đã rút đề nghị rút yêu cầu khởi tố. Ngoài ra giữa bị hại và đại diện của bị hại với Nguyễn Ngọc G38 thống nhất phía cháu N3 A2và đại diện cho cháu N3 A2không yêu cầu gì về dân sự. Do vậy, Tòa án không đặt ra giải quyết.
[13]. Về vật chứng và tài sản bị tạm giữ:
- Đối với 01 tuýp sắt bằng kim loại màu trắng; 01 xẻng mini bằng kim loại màu đồng ánh kim là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamsha, sirus biển kiểm soát 20G1- 132.40 là tài sản của anh Nguyễn Ngọc G11 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho anh Nguyễn Ngọc G11.
- Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu hiệu Mitsubishi, Outlander màu trắng, biển kiểm soát 98A- 454.26 của chị Lại Thị T11 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại chị T11.
[14] Về án phí: Buộc bị cáo Tlbị cáo Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Về tránh nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về vật chứng và tài sản bị tạm giữ: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
1.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Vũ Văn T1 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Lại Quốc Đ10 01 (Một) năm 06 (Stháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Tịch thu tiêu hủy các tài sản sau: 01 tuýp sắt bằng kim loại màu trắng, dài 54cm, đường kính 2,5cm; 01 xẻng mini bằng kim loại màu đồng ánh kim, dài 54cm, chiều rộng tại chỗ rộng nhất 11,5cm.
- Trả lại chị Lại Thị T11: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, Outlander màu trắng, biển kiểm soát 98A- 454.26.
- Trả lại anh Nguyễn Ngọc G11: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamsha, sirius biển kiểm soát 20G1- 132.40.
Buộc bị cáo Tlbị cáo Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
(Toàn bộ đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 54/QĐ-VKS-HH ngày 23/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - Công an huyện Hiệp Hòa; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa; - Bị cáo; bị hại, Luật sư; người liên quan; - Lưu hồ sơ, văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Văn Hải |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
