Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày 21 tháng 6 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Nữ Hương Huyền.

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hảo và bà Lê Thị Bích Thuần.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa:

Vũ Lan Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:69/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Quốc S, sinh ngày 19/8/1993 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng P và bà Nguyễn Thị Thanh B; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2024 đến nay (có mặt).

Người bị hại: Anh Nguyễn Kim T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ G B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ D T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Quốc S và anh Nguyễn Kim T là bạn bè chơi với nhau từ khi làm cùng nhau tại Thành phố Hà Nội. Đầu tháng 5 năm 2023 cả hai cùng nhau xin việc tại khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và thuê trọ tại nhà chị Nguyễn Thị H1 ở thôn H, xã T, huyện B. Khoảng 20 giờ ngày 12/5/2023, anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 88D1- 440.20 của mình chở S từ Công ty về phòng trọ. Anh T cất xe ở khu vực để xe của nhà trọ rồi cả hai đi lên phòng. Trước khi đi ngủ, anh T để chìa khóa xe mô tô; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus; 01 chiếc ví giả da (bên trong cất 01 đăng ký xe biển kiểm soát 88D1- 440.20 cùng giấy tờ tùy thân) ở đầu giường. Do không có tiền tiêu sài nên S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại của anh T. Sau đó S lấy điện thoại của anh T nhắn tin cho anh Nguyễn Xuân N (là bạn của S) hỏi anh N có biết chỗ nào bán xe không, có ông chú muốn bán thì anh N nhắn tin lại cho S “được, cầm về đây”. Đến khoảng 02 giờ ngày 13/5/2023, thấy anh T đã ngủ say nên S lấy ví da, chìa khóa xe mô tô và điện thoại của anh S ở đầu giường rồi đi xuống khu vực để xe ở tầng 1 lấy chìa khóa mở xe rồi điều khiển xe đến thành phố V, tỉnh Phú Thọ vào một quán game chơi. Đến khoảng 10 giờ ngày 13/5/2023, khi S đang ở quán game thì anh N tìm đến hỏi S “xe của ai” thì S bảo xe của chú em. Do tin tưởng S nên anh N gọi điện cho anh Nguyễn Việt H hỏi anh H có mua xe của S không, xe đầy đủ giấy tờ và không phải vi phạm pháp luật thì anh H đồng ý. Sau đó anh N bảo S tự liên hệ với anh H để mua bán xe. S nhắn tin từ tài khoản Messenger của mình là “L” tới tài khoản Messenger của anh H là “Nguyễn Hoàng V” để gửi ảnh đăng ký xe máy và ảnh xe mô tô Honda Airrblade biển kiểm soát 88D1- 440.20 thì anh H hẹn gặp S tại một quán café ở thành phố V (không nhớ tên quán, địa chỉ cụ thể ở đâu). Khi gặp nhau, cả hai thỏa thuận S bán cho H chiếc xe máy nêu trên với giá 15.000.000đ. Sau đó S viết giấy mua bán xe và đưa chìa khóa, đăng ký xe cho anh H. Anh H đưa cho S 2.000.000đ tiền mặt và nhờ bạn là Phan Việt A chuyển khoản cho S số tiền 13.000.000đ. Sau đó S tiêu sài cá nhân hết rồi xuống Hà Nội tìm việc làm. Tại đây do không có tiền tiêu sài nên S đã bán chiếc điện thoại Iphone 7 Plus của anh T với giá 1.200.000đ ở một quán nước vỉa hè.

Đối với chiếc xe mô tô mà S bán cho anh H, ngày 01/6/2023 anh H nhờ bạn là Lê Quang T1 đăng tải hình ảnh chiếc xe và rao bán trên mạng. Ngày 05/6/2023, anh H điều khiển xe đến địa bàn phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để giao dịch mua bán thì bị Công an huyện B tiến hành tạm giữ xe cùng đăng ký xe để phục vụ điều tra. Đối với chiếc ví giả da và giấy tờ tùy thân của anh T, khoảng cuối tháng 8/2023 S gửi bưu điện trả lại cho anh T. Còn S sau đó bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 22/02/2024 cơ quan điều tra bắt được S theo lệnh truy nã.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72 ngày 10/6/2023 của Hội đồng định giá kết luận: Trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88D1- 440.20 nhãn hiệu Honda Airblade là 22.500.000đ.

Tại kết luận định giá tài sản số 129 ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá kết luận: Trị giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus trị giá 1.733.000đ

Tại Cáo trạng số: 67/CT-VKSBX ngày 16/5/2024, Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Lê Quốc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lê Quốc S từ 15 đến 18 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Quốc S tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 13/5/2023, tại khu nhà trọ của chị Nguyễn Thị H1thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Quốc S đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 88D1- 440.20 trị giá 22.500.000₫ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus dung lượng 32GB trị giá 1.733.000đ; 01 ví giả da bên trong có đăng ký xe và giấy tờ tùy thân của anh Nguyễn Kim T. Sau đó S mang xe bán cho anh Nguyễn Việt H với giá 15.000.000đ và bán chiếc điện thoại Iphone 7 Plus với giá 1.200.000đ cho một người không quen biết rồi tiêu sài hết. Tổng giá trị tài sản S trộm cắp là 24.233.000đ.

Hành vi nêu trên của Lê Quốc S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định như sau:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và

an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động để mẹ đẻ bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 6.000.000đ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách hiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm:

Đối với anh Nguyễn Xuân N là bạn bè chơi với S, không biết xe mô tô do S phạm tội mà có nên đã giới thiệu để S bán xe cho anh Nguyễn Việt H, anh N cũng không được hưởng lợi gì về việc S bán xe nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Việt H là người mua xe mô tô của S nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà. Đối với anh Lê Quang T1 là bạn của anh H, khi H nhờ anh T1 đăng hộ ảnh để bán xe mô tô, anh T1 không biết là xe do S phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh H và anh T1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 88D1- 440.20, đăng ký xe mang tên Nguyễn Mạnh K (là anh họ Nguyễn Kim T) đứng tên đăng ký xe hộ anh T. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh T nên ngày 23/01/2024, Công an huyện B đã trả lại chiếc xe cùng đăng ký xe cho anh T. Sau khi nhận lại tài sản, anh T không yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphnoe 7 Plus do S trộm cắp của anh T sau đó mang đi bán nên không thu hồi được. Bà Nguyễn Thị Thanh B (là mẹ đẻ của S) đã bồi thường cho anh T số tiền 6.000.000đ. Anh T không yêu cầu gì đối với chiếc điện thoại, phía bà B cũng không yêu cầu S phải hoàn trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 15.000.000₫ anh H mua xe của S nhưng sau đó chiếc xe bị thu giữ trả lại cho bị hại, anh H không yêu cầu S phải trả lại số tiền đã mua xe 15.000.000đ nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Đối với chiếc ví giả da bên trong có giấy tờ tùy thân của anh TS trộm cắp. Khoảng cuối tháng 8 năm 2023, S đã gửi trả lại cho anh T qua đường bưu điện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lê Quốc S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 22/02/2024).
  3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Quốc S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát huyện Bình Xuyên;
  • - Công an huyện Bình Xuyên;
  • - Trại tạm giam- CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Lê Nữ Hương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger