|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/12/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Như Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Cảnh
- Bà Trần Ngọc Diệu
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kiến Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 114/2025/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 20 25 và quyết định hoãn phiên tòa số 130/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Nguyễn Minh T1, sinh năm 1993. Địa chỉ: số D, ấp E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1993. Địa chỉ: số D, ấp E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long).
Tại phiên tòa, bà Thái Nguyễn Minh T1 và ông Nguyễn Hữu T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà T2 Nguyễn Minh T1 trình bày:
Bà và ông T1 qua thời gian quen biết với nhau thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 27/7/2018. Hôn nhân do tự nguyện. Bà và ông T1 sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng khoảng đầu năm 2025 thì hai bên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong kinh tế, ông T1 làm việc gì cũng không bàn với bà, tự ý đầu tư dẫn đến thua lỗ trong làm ăn. Đồng thời, ông T1 thường xuyên nhậu nhẹt, khi về say xỉn phát sinh nhiều tật xấu, ông T1 cũng không phụ bà chăm lo cho gia đình,... nên tình cảm vợ chồng dần đi xuống và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau và đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Bà xác định không còn tình cảm với ông T1, hôn nhân không có khả năng hàn gắn nên bà cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông T1.
Bà và ông T1 đều có công việc, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu cấp dưỡng vợ, chồng
-Về con chung: bà T1 khai bà và ông T1 có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q sinh ngày 23/07/2022. Sau ly hôn, bà T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Hoàng Q và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
-Về tài sản chung và nợ chung: bà T1 khai bà và ông T1 không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Hữu T trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà T là qua thời gian quen biết thì ông và bà T tự nguyện tiến tới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) ngày 27/7/2018. Hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng khoảng tháng 8/2025 thì hai bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như bà T trình bày là đúng. Ông làm ăn có thua lỗ, bà T muốn ông đổi công việc khác thì ông cũng đã đổi công việc khác và đã làm được khoảng một tháng nay rồi. Việc ông nhậu nhẹt say xỉn về phát sinh nhiều tật xấu thì ông thừa nhận là có, nếu bà T cho ông cơ hội hàn gắn thì ông sẽ bỏ nhậu, sáng ông đi làm chiều ông về nhà phụ bà T chăm lo cho gia đình . Ông và T đã ly thân từ tháng 8/2025 cho đến nay. Ông và bà T đều có công việc, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu cấp dưỡng vợ, chồng. Ông không muốn ly hôn với bà T, ông muốn ông và bà T cùng nhau hàn gắn đoàn tụ để nuôi con. Ông hứa sẽ thay đổi tật xấu để cùng bà T chăm lo cho gia đình, hy vọng bà T suy nghĩ kỹ, lỗi sai thì hai bên ai cũng có lỗi nhưng con còn nhỏ, hai bên cố gắng hàn gắn để nuôi con chung.
- Về con chung: ông khai ông và bà T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 23/7/2022. Tại bản khai mà ông nộp cho Tòa án có yêu cầu được nuôi con chung nhưng hiện tại con đang sống với bà T và trong quá trình hòa giải thì ông đồng ý để bà T trực tiếp nuôi con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: ông khai ông và bà T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa:
Bà Thái Nguyễn Minh T1 vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Hữu T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
* Về tố tụng:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.
- Về hôn nhân: bà T được ly hôn với ông T.
- Về con chung: bà T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Hoàng Q sinh ngày 23/07/2022 cho đến khi con chung thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà T và ông T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn là bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long giải quyết ly hôn với bị đơn là ông T – cư trú tại ấp E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long). Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.
Bà T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt; ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T, ông T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân:
bà T và ông T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 27/7/2018 theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Trong thời gian chung sống, bà T khai bà và ông T sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng khoảng đầu năm 2025 thì hai bên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong kinh tế, ông T làm việc gì cũng không bàn với bà T, tự ý đầu tư dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh. Đồng thời, ông T thường xuyên nhậu nhẹt, khi về say xỉn phát sinh nhiều tật xấu, ông T cũng không phụ bà chăm lo cho gia đình,... nên tình cảm vợ chồng không còn và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Bà T cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông T. Ông T thừa nhận giữa ông và bà T đã xảy ra mâu thuẫn như bà T đã trình bày, ông mong muốn bà T cho ông cơ hội để hai bên hàn gắn cùng nuôi con chung. Tòa án đã tạo điều kiện cho ông T để tìm biện pháp đoàn tụ hàn gắn với bà T nhưng ông T không có giải pháp cải thiện tình trạng hôn nhân và trong quá trình hòa giải đoàn tụ ngày 14/11/2025 thì ông T tự ý bỏ về. Mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do tại phiên tòa. Từ đó, có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
bà và ông T khai có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q sinh ngày 23/07/2022, hiện tại con chung đang sống với bà T. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung cho bà T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên, tự lao động sinh sống được. Ghi nhận bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung:
bà T và ông T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung:
bà T và ông T khai không có, không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về án phí:
bà T phải chịu án phí theo quy định theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Nguyễn Minh T1.
- Về hôn nhân: bà Thái Nguyễn Minh T1 được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T.
-
Về con chung: bà T2 Nguyễn Minh T1 và ông Nguyễn Hữu T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Q sinh ngày 23/7/2022. Bà Thái Nguyễn Minh T1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Hoàng Q cho đến khi con chung thành niên. Ghi nhận bà Thái Nguyễn Minh T1 không yêu cầu ông Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: bà T2 Nguyễn Minh T1 và ông Nguyễn Hữu T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: bà T2 Nguyễn Minh T1 và ông Nguyễn Hữu T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: bà Thái Nguyễn Minh T1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Thái Nguyễn Minh T1 đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006057 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Thái Nguyễn Minh T1 đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Như Thắm |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Văn Cảnh Trần Ngọc Diệu |
Huỳnh Như Thắm |
Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Nguyễn Minh Tín ly hôn, tranh chấp về nuôi con với Nguyễn Hữu Tín
