Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 82/2024/HSST

Ngày 15-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Rẽn

2. Ông Nguyễn Hồng Phúc

Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ; sinh ngày 30 tháng 4 năm 1986, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Cao Thị N (chết); vợ: chưa có; nhân thân: ngày 30/9/2005, bị UBND tỉnh T đưa đi cơ sở giáo dục P1 - Bình Dương, thời hạn 24 tháng do có hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong ngày 27/12/2007. Ngày 08/11/2011, bị UBND huyện B đưa đi chữa bệnh, học tập và lao động tại Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh T, thời hạn 24 tháng do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong.

- Tiền án: tại Bản án số: 01/2014/HS-ST ngày 03/01/2014, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, áp dụng điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 30 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt tiền bổ sung. (Đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa nộp các khoản phạt bổ sung).

- Tiền sự: có 03 tiền sự:

  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39 ngày 18/3/2022, của Công an xã A, huyện B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54 ngày 10/6/2022, của Công an xã A, huyện B xử phạt 1.500.000 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 467 ngày 22/12/2022, của Công an huyện B xử phạt 10.500.000 đồng do có hành vi vi phạm hành chính “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” và “Hủy hoại tài sản của cá nhân, tổ chức”.

- Bị bắt tạm giam ngày 15-5-2024; có mặt.

2. Lê Văn S1 (Heo); sinh ngày 07 tháng 02 năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M (chết) và bà Nguyễn Thúy P; vợ: chưa có; tiền án, tiền sự không; bị bắt tạm giam ngày 15-5-2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: trưa ngày 27/4/2024, Lê Văn S1 đến khu vực Nghĩa địa thuộc ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh gặp người đàn ông tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 bịch ma túy đá với giá 400.000 đồng. Sau đó đi đến nhà Nguyễn Văn Đ thuộc ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh rủ Đ sử dụng ma túy, thì Đ đồng ý. Đẩu lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (tẩu) đưa cho S1 đổ hết bịch ma túy vừa mua vào tẩu hai người cùng nhau sử dụng. Lúc này, Tô Thành S2 đến thì Đ và S1 rủ S2 sử dụng ma túy thì S2 đồng ý. Sự dùng bật lửa đun nóng ma túy lên sử dụng trước rồi đưa cho Đ và S2 sử dụng sau. Ngày 30/4/2024, Công an xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh thử test nhanh chất ma tuý đối với Nguyễn Văn Đ, Lê Văn S1 và Tô Thành S2 cho kết quả dương tính với ma túy, loại methamphetamine. Tiến hành khám xét nơi ở của Đ thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong có chứa chất tinh thể rắn được cất giấu trong phòng ngủ của Đ. Tại Kết luận giám định số: 857 ngày 06/5/2024, của Phòng K1 Công an T, kết luận: mẫu chất tỉnh thể rắn (kí hiệu M) bên trong 01 đoạn ống thủy tỉnh trong suốt, có một đầu là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,1608 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 76/CT-VKSBC ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Văn S1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lê Văn S1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 09 đến 10 năm tù.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn S1 từ 08 đến 09 năm tù.

Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; vật chứng thu giữ tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Đ, S1 không tranh luận và nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định. Trưa ngày 27/4/2024, S1 đến khu vực nghĩa địa thuộc ấp B, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh gặp người đàn ông tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 bịch ma túy đá với giá 400.000 đồng. Sau đó bị cáo đến nhà Đ thuộc ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Tây Ninh rủ Đ sử dụng ma túy; Đẩu lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (tẩu) đưa cho S1, S1 đổ hết bịch ma túy vừa mua vào tẩu hai người cùng sử dụng. Lúc này, Tô Thành S2 đến, Đ và S1 rủ S2 sử dụng ma túy thì S2 đồng ý. Sự dùng bật lửa đun nóng ma túy lên sử dụng trước rồi đưa cho Đ và S2 sử dụng. Ngày 30/4/2024, Công an xã A, huyện B thử test nhanh chất ma tuý đối với Đ, S1 và S2 cho kết quả dương tính với ma túy, loại methamphetamine. Tiến hành khám xét nơi ở của Đ thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong có chứa chất tinh thể rắn được cất giấu trong phòng ngủ của Đ. Tại Kết luận giám định số: 857 ngày 06/5/2024, của Phòng K1 Công an T, kết luận: mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt, có một đầu là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,1608 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo S1, Đ trình bày, trước khi sử dụng S1 đổ hết số ma túy mua được vào dụng cụ, sau khi sử dụng xong mang bộ dụng cụ cất, không biết trong đó còn chất ma túy. Cho nên Viện kiểm sát không truy tố hành vi tàng trữ là có căn cứ.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; các bị cáo biết việc tổ chức, sử dụng ma túy nhà nước cấm, nhưng bị cáo rủ nhiều người khác tham gia sử dụng; bị cáo Đ đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; các bị cáo xem thường pháp luật; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Vật chứng: 01 gói được niêm phong vụ số: 857/KL - KTHS; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng; nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lê Văn S1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-5-2024.
  3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn S1 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-5-2024.
  4. Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong vụ số: 857/KL - KTHS; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

  5. Về án phí: các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lê Văn S1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HSST ngày 15/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 82/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NG VAN DAU- dp- - TO CHUC SD MA TUY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger