Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HS-ST

Ngày: 24 – 3 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình và bà Nguyễn Thị Bạn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2025/TLST–HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST–HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Quốc Trọng

    Sinh ngày 12 tháng 7 năm 1967; Tại: Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện tại: 18A đường A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Á và con bà Nguyễn Thị Á1. Bị cáo có vợ là Phan Thị T1 và có 03 con, con lớn sinh năm 1995 và con nhỏ nhất sinh năm 2004.

    Tiền sự: Không

    Tiền án: 01 tiền án. Ngày 23/10/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội Đánh bạc. (Tại bản án số 39/2023/HSST).

    Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

  2. Họ và tên: Đoàn Thế H

    Sinh ngày 05 tháng 01 năm 1972; Tại: Quảng Bình; Nơi thường trú: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện tại: Số A Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Xuân P và con bà Cao Thị V. Bị cáo có vợ là Trần Thị Hồng N và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994 và con nhỏ nhất sinh năm 2004.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Vũ Đăng C

    Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1973; Tại: Bắc Ninh; Nơi cư trú: Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đăng X và con bà Nguyễn Thị L. Bị cáo có vợ Đậu Thị N1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2002 và con nhỏ sinh năm 2007.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

  4. Họ và tên: Nguyễn Văn H1

    Sinh ngày 08 tháng 9 năm 1962; Tại: Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn D và con bà Đặng Thị D1. Bị cáo có vợ là Vũ Thị H2 và có 02 con, con lớn sinh năm 1994 và con nhỏ sinh năm 2006.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn N2 sinh năm 1989

    Địa chỉ: Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

  2. Bà Trần Thị Hồng N

    Địa chỉ: A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

  3. Ông Đoàn Danh N3

    Địa chỉ: A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16 tháng 01 năm 2025, Nguyễn Quốc T2, Nguyễn Văn H1, Vũ Đăng C đi đến nhà của Đoàn Thế H, địa chỉ số A Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để ăn giỗ, sau đó T2, H1 và C cùng rủ nhau đánh bạc trái phép, dưới hình thức chơi bài Phỏm, được thua bằng tiền thì cả nhóm đều đồng ý. Sau đó, H lấy 02 bộ bài Tú Lơ Khơ để trên chiếc giường bằng gỗ, kích thước (1.6 x 2)m trong căn phòng ngủ tầng 02 của ngôi nhà trên làm công cụ đánh bạc và thỏa thuận cách đánh bạc như sau: Người về nhất thắng số tiền 200.000 đồng của 02 người còn lại, người về nhì thua số tiền 50.000 đồng, về chót thua số tiền 150.000 đồng, bài bị cháy thua số tiền 200.000 đồng cho người về nhất. Người nào ù thường thì thắng được số tiền 250.000 đồng/01 người, ù tròn thắng được số tiền 500.000 đồng/01 người, ăn lá bài thứ nhất được số tiền 50.000 đồng, ăn lá bài thứ 2 được số tiền 100.000 đồng, ăn lá bài chốt hạ được số tiền 200.000 đồng, nếu người nào bị người bên cạnh ăn cả 03 lá bài thì phải đền (Tức phải trả tiền như bị ù của cả 02 người cho người thắng), tứ quý thắng 200.000 đồng/người, con cá bốc 50.000 đồng/con, tứ quý cá thắng 400.000 đồng/người. Quá trình đánh bạc, cả nhóm không quy định đậu chớn mà tiền đánh bạc để trước chiếu bạc hoặc để trong người khi thắng thua mới lấy ra chung cho nhau. Khi đánh bạc, T2 mang theo số tiền 1.570.000đồng (Một triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng), H1 mang theo số tiền 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), C mang theo số tiền 4.800.000đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng) tất cả đều sử dụng hết để đánh bạc liên tục nhiều ván, có ván thắng ván thua. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, T2 nghỉ đánh bạc đi xuống nhà ăn uống thì H lên ngồi thế vào tụ của T2 tiếp tục đánh bạc dưới hình thức trên với H1 và C. Khi đánh bạc H mang theo số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) sử dụng hết để đánh bạc liên tục nhiều ván, có ván thắng ván thua. Lúc này, Lê Văn N2, sinh năm 1989, trú tại Thôn D, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đến và thấy cả nhóm đang đánh bạc bằng hình thức trên thì ngồi xem. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi H1, C và H đang đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài Phỏm được thua bằng tiền, N2 đang ngồi xem, T2 đang ăn cơm ở dưới nhà bếp thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Tạm giữ trên chiếu bạc: 02 bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá đã qua sử dụng và số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) trước tụ của H. Tạm giữ trên người các con bạc tài sản sản có liên quan. (BL: 74–93; 118–136; 168–186; 223–243)

Hình thức đánh bài Phỏm như sau:

Đầu tiên vào đánh bạc, một người ngẫu nhiên chia bài, sau đó ai về nhất sẽ được chia bài ván tiếp theo, lấy bộ bài T3 lơ khơ 52 lá chia lần lượt cao nhất là 4 tụ và thấp nhất là 2 tụ, trong đó tụ của người chia bài có 10 lá bài, tụ còn lại mỗi tụ chia 09 lá bài, số lá bài còn lại giữa chiếu bạc để cho các con bạc bốc trong quá trình đánh bạc và chọn quân bài ngẫu nhiên do người ngồi đối diện người chia bài bốc. Sau đó, người chia bài sẽ đánh trước tiên, mỗi lần chỉ đánh đi 01 (một) lá bài, nếu người ngồi liền kề (theo chiều đánh) “Ăn bài” nghĩa là lấy lá bài này để cùng với các lá bài trên tay mình tạo thành P1, một phỏm gồm từ 03 lá bài trở lên cùng loại hoặc cùng chất bài và liền kề nhau (Ví dụ: 03 quân 9 hoặc 04 quân 9 hoặc các quân bài 10, J, Q cùng một chất Rô, C1, C2, B). Sau khi “Ăn bài” thì người này không được bốc bài trên sòng mà phải đánh đi 01 lá bài khác đang cầm trên tay. Nếu không “Ăn bài” thì người này sẽ bốc một lá bài trên cùng trong số những lá bài còn lại úp giữa chiếu bạc và đánh 01 lá bài đi, làm sao trên tay của mỗi người chơi luôn có 09 lá bài. Cứ tiếp tục đánh bài như vậy cho đến khi ván bài kết thúc, tức là khi ai có bài “Ù” thì hạ bài, nếu không có bài “Ù” thì khi tại tụ của người chơi có 04 lá bài đánh xuống (không tính các quân bài bị người khác “Ăn”) thì hạ phỏm rồi tính điểm để phân định kết quả thắng thua của ván bài đó. Bài “Ù thường” là bài có 09 quân bài tạo thành P1, bài “Ù tròn” là bài có 10 quân bài tạo thành Phỏm; Điểm bài được tính là tổng số điểm của những lá bài không tạo thành phỏm, theo đó lần lượt từ quân A đến quân K (A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K) được tính điểm từ 1 đến 13 điểm/lá bài. Bài thấp (ít) điểm nhất thì về nhất và thắng hết 03 hoặc 02 bài còn lại, thua nhì (Bài có điểm thấp thứ hai); thua ba (Bài có điểm thấp thứ 3); thua “Chót” (Bài có điểm thấp nhất). Bài không có “Phỏm” gọi là “Bài cháy”; bài nào có Phỏm và có nhiều “Quân cá” hơn hoặc có “Quân cá” có chất lớn hơn (Theo thứ tự từ nhỏ đến lớn là B, C2, R, C1) thì thắng tiền “Quân cá”. Người nào để bị ăn 03 lá bài trong 01 ván bài thì bị “Đền bài” nghĩa là ngoài số tiền mình bị thua còn phải chung tiền “Ù” cho 02 người hoặc 01 người còn lại.

Tại bản cáo trạng số: 78/CT-VKSTP – BMT ngày 28/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Quốc T2, về tội: Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Quốc T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Quốc Trọng phạm T4 Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T2 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Áp dụng Điều 56, Điều 65 Bộ luật hình sự tổng hợp 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 39/2023/HSST ngày 23/10/2023 của TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk thành hình phạt tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian bắt, tạm giữ từ ngày 17/01/2025 đến ngày 26/01/2025 và từ ngày 22/3/2023 đến ngày 30/4/2023.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 35 BLHS.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Thế H mức hình phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 35 BLHS.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đăng C mức hình phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 mức hình phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng

* Biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng.

Đối với số tiền 10.270.000 đồng (trong đó: số tiền 150.000 đồng trên chiếu bạc; số tiền 1.370.000 đồng của Đoàn Thể H; số tiền 4.350.000 đồng của Vũ Đăng C; số tiền 2.400.000 đồng của Nguyễn Văn H1 và số tiền 2.000.000 đồng của Nguyễn Quốc T2), đây là tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 02 bộ bài Tây là tài sản của bị cáo Đoàn Thế H, được bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các tài sản, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20, màu đỏ, số Imei: 357648104197228 đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đoàn Thế H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu tím, số Imei: 359192491227833, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Vũ Đăng C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu xám, số Imei: 359473081043404, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8Z 5G, màu cam, số Imei: 863921065808191, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Quốc T2 không sử dụng phạm tội. Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho các bị cáo H, C, H1 và T2 là chủ sở hữu, quản lý hợp pháp, là phù hợp.

Đối với 01 chiếc giường bằng gỗ, kích thước (1.6 x 2) m các bị cáo H, C, H1 và T2 ngồi để đánh bạc thuộc quyền sở hữu của anh Đoàn Danh N3, sinh năm: 2004, trú tại: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Là con trai ruột của bị cáo Đoàn Thế H). Quá trình điều tra, xác định: Anh N3 không cung cấp, không chuẩn bị chiếc giường trên cho các bị cáo H, C, H1 và T2 thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan điều tra không tạm giữ chiếc giường trên, không đề cập xử lý đối với anh N3, là phù hợp.

Đối với địa điểm bị cáo Đoàn Thế H cùng các con bạc làm nơi để đánh bạc tại căn phòng ngủ tầng 02 thuộc ngôi nhà xây tại địa chỉ: Số A Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo H và vợ là bà Trần Thị Hồng N, sinh năm 1974, cùng cư trú tại địa chỉ trên. Việc các bị cáo đánh bạc tại căn phòng ngủ tầng 02 của ngôi nhà nêu trên bà Trần Thị Hồng N không biết nên không đề cập xử lý đối với bà N, là phù hợp.

Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Do ý thức coi thường pháp luật nên vào ngày 16/01/2025, tại phòng ngủ tầng 02 của Đoàn Thế H ở địa chỉ A Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Quốc T2, đã có hành vi cùng nhau đánh bạc hình thức chơi bài Phỏm thắng thua bằng tiền với số tiền sử dụng đánh bạc là 10.270.000 đồng, thì bị phát hiện bắt quả tang.

Như vậy bản cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T2, Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự xã hội và có thể là làm phát sinh các vi phạm pháp luật khác. Do đó, cần phải xét xử và áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo, cũng như răn đe riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Quốc T2 có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội mới nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quốc T2, Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

Bị cáo Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo; Bị cáo Nguyễn Quốc T2 có bố là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T2.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét áp dụng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định một mức phần hình phạt thỏa đáng cho các bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của nhà nước ta.

Xét tính chất mức độ hành vi và căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy, cần buộc cách ly bị cáo Nguyễn Quốc T2 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và mới đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Các bị cáo Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải với hành vi của mình, số tiền tham gia đánh bạc không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[2.4] Đối với 01 chiếc giường bằng gỗ, kích thước (1.6 x 2) m các bị cáo H, C, H1 và T2 ngồi để đánh bạc thuộc quyền sở hữu của anh Đoàn Danh N3, sinh năm: 2004, trú tại: Thôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Là con trai ruột của bị cáo Đoàn Thế H). Quá trình điều tra, xác định: Anh N3 không cung cấp, không chuẩn bị chiếc giường trên cho các bị cáo H, C, H1 và T2 thực hiện hành vi đánh bạc nên Cơ quan điều tra không tạm giữ chiếc giường trên, không đề cập xử lý đối với anh N3, là phù hợp.

Đối với địa điểm bị cáo Đoàn Thế H cùng các con bạc làm nơi để đánh bạc tại căn phòng ngủ tầng 02 thuộc ngôi nhà xây tại địa chỉ: Số A Buôn C, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo H và vợ là bà Trần Thị Hồng N, sinh năm 1974, cùng cư trú tại địa chỉ trên. Việc các bị cáo đánh bạc tại căn phòng ngủ tầng 02 của ngôi nhà nêu trên bà Trần Thị Hồng N không biết nên không đề cập xử lý đối với bà N, là phù hợp.

[2.5] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 10.270.000 đồng (trong đó: số tiền 150.000 đồng trên chiếu bạc; số tiền 1.370.000 đồng của Đoàn Thế H; số tiền 4.350.000 đồng của Vũ Đăng C; số tiền 2.400.000 đồng của Nguyễn Văn H1 và số tiền 2.000.000 đồng của Nguyễn Quốc T2), đây là tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 02 bộ bài Tây là tài sản của bị cáo Đoàn Thế H, được bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các tài sản, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20, màu đỏ, số Imei: 357648104197228 đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đoàn Thế H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu tím, số Imei: 359192491227833, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Vũ Đăng C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu xám, số Imei: 359473081043404, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8Z 5G, màu cam, số Imei: 863921065808191, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Quốc T2 không sử dụng phạm tội. Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho các bị cáo H, C, H1 và T2 là chủ sở hữu, quản lý hợp pháp, là phù hợp.

[2.5] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc T2, Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc T2, Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T2 07 (bảy) tháng tù.

    Áp dụng Điều 56, Điều 65 Bộ luật hình sự: Tổng hợp 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo tại bản án số 39/2023/HSST ngày 23/10/2023 của TAND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk thành hình phạt tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian bắt, tạm giữ từ ngày 17/01/2025 đến ngày 26/01/2025 và từ ngày 22/3/2023 đến ngày 30/4/2023.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đoàn Thế H 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng)

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Vũ Đăng C 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

  4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền 10.270.000 đồng (trong đó: số tiền 150.000 đồng trên chiếu bạc; số tiền 1.370.000 đồng của Đoàn Thế H; số tiền 4.350.000 đồng của Vũ Đăng C; số tiền 2.400.000 đồng của Nguyễn Văn H1 và số tiền 2.000.000 đồng của Nguyễn Quốc T2), đây là tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc.

    Tịch thu tiêu hủy đối với 02 bộ bài Tây là tài sản của bị cáo Đoàn Thế H, được bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội.

    Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B trao trả đối với các tài sản, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20, màu đỏ, số Imei: 357648104197228 đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đoàn Thế H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu tím, số Imei: 359192491227833, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Vũ Đăng C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu xám, số Imei: 359473081043404, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8Z 5G, màu cam, số Imei: 863921065808191, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Quốc T2 không sử dụng phạm tội.

    (Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)

  6. * Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Quốc T2, Đoàn Thế H, Vũ Đăng C, Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • – Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Công an Tỉnh Đắk Lắk;
  • – Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • – Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Phân trại tạm giam khu vực thành phố Buôn Ma Thuột;
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 82/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc T và 03 bị cáo phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger