Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Bà Hoàng Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1987;
  • Địa chỉ cư trú: K, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1988;
  • Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: K, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An;
  • Hiện đang cư trú tại: Nước Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:

Anh và và chị Hoàng Thị T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An vào ngày 07 tháng 3 năm 2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách khác nhau. Đến năm 2022, chị T1 đi xuất khẩu lao động tại nước Cộng hòa liên bang Đ cho đến nay chưa về V. Do mâu thuẫn nên vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện tại, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị T1.

Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị T1 có có 02 con chung là Trần Hoàng Linh Đ1, sinh ngày 03/11/2013 và Trần Hoàng Bảo A, sinh ngày 03/4/2019. Hiện các con đang ở với anh và được anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con đến lúc trưởng thành và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

Anh Trần Văn T hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên anh có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn chị Hoàng Thị T1, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của chị Hoàng Thị T1 là bà Nguyễn Thị Q (mẹ của chị T1) đến lần thứ hai mà thân nhân của chị T1 cũng không cung cấp địa chỉ của chị T1 ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời cho đến nay, chị T1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Q (mẹ của chị T1) trình bày: Chị Hoàng Thị T1 là con của bà và ông Hoàng Văn S (đã mất). Chị T1 và anh Trần Văn T là vợ chồng, kết hôn với nhau vào năm 2013. Hiện nay, chị T1 đang lao động ở nước Cộng hòa liên bang Đ, thường xuyên liên lạc về gia đình qua mạng xã hội để hỏi thăm sức khỏe người thân. Tuy nhiên, do chị T1 không cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của chị T1 ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho chị T1 biết việc anh T nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì chị T1 cũng đồng ý ly hôn nhưng không có văn bản gửi cho Tòa án. Việc chị Hoàng Thị T1 vắng mặt được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Văn T, cho anh T được ly hôn với chị Hoàng Thị T1. Về con chung: Đề nghị giao cho anh T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trần Hoàng Linh Đ1, sinh ngày 03/11/2013 và Trần Hoàng Bảo A, sinh ngày 03/4/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh T không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu và chị T1 chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Trần Văn T có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị T1 hiện đang cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, chị T1 có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn chị Hoàng Thị T1 không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị T1 vẫn cố tình vắng mặt.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Trần Văn T đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên anh có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu và chứng cứ mà anh đã nộp cho Tòa án. Bị đơn chị Hoàng Thị T1 hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T1 thông qua người thân là bà Nguyễn Thị Q (mẹ của chị T1) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của chị Hoàng Thị T1”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu chị T1 trình bày ý kiến về việc anh T có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của chị T1 cũng không cung cấp địa chỉ của chị T1 ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía bà Nguyễn Thị Q (mẹ của chị T1) trình bày: Chị Hoàng Thị T1 là con của bà và ông Hoàng Văn S (đã mất). Chị T1 và anh Trần Văn T là vợ chồng, kết hôn với nhau vào năm 2013. Hiện nay, chị T1 đang lao động ở nước Cộng hòa liên bang Đ, thường xuyên liên lạc về gia đình qua mạng xã hội để hỏi thăm sức khỏe người thân. Tuy nhiên, do chị T1 không cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của chị T1 ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho chị T1 biết việc anh T nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì chị T1 cũng đồng ý ly hôn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 10/02/2025 và lần thứ hai vào ngày 28/02/2025 nhưng cả hai lần chị T1 đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc chị Hoàng Thị T1 vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Hoàng Thị T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An vào ngày 07 tháng 3 năm 2013, là hôn nhân hợp pháp. Theo anh T trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách khác nhau. Đến năm 2022, chị T1 đi xuất khẩu lao động tại nước Cộng hòa liên bang Đ cho đến nay chưa về V. Theo Công văn số 5057/QLXNC(Đ1) ngày 25/11/2024 của Phòng Q1, Công an tỉnh N cung cấp: Chị Hoàng Thị T1 đã xuất cảnh ngày 28/12/2022 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Trần Văn T và chị Hoàng Thị T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh T yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Theo anh Trần Văn T trình bày, anh và chị T1 có 02 con chung, hiện các con đang do anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của anh T phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay, chị T1 đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ còn anh T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của anh T. Giao cho anh Trần Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trần Hoàng Linh Đ1, sinh ngày 03/11/2013 và Trần Hoàng Bảo A, sinh ngày 03/4/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Văn T không yêu cầu và chị Hoàng Thị T1 chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5]. Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Trần Văn T.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T được ly hôn chị Hoàng Thị T1.
  2. 2. Về con chung: Giao cho anh Trần Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trần Hoàng Linh Đ1, sinh ngày 03/11/2013 và Trần Hoàng Bảo A, sinh ngày 03/4/2019 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh T không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị Hoàng Thị T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
  2. 4. Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh T đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013824 ngày 27/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Trần Văn T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
  3. 5. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Chị Hoàng Thị T1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Nghi Tân, TP Vinh, NA;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger