Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 82/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Kiều Thu

Bà Trần Thị Thanh Nga

Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:

Bà Lê Nguyễn Tuyết Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

1.NGUYỄN VĂN T, giới tính: N, sinh năm: 1999, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố I, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: Khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Thợ làm đá hoa cương; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974 và Lê Thị H, sinh năm 1976; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 11/10/2024, chuyển tạm giam ngày 20/10/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. LÊ VĂN H1 (Đen), giới tính: N, sinh năm: 2001, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện tại: Khu phố E, phường P, thành phố P; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Q, sinh năm 1973 và Lê Thị T2, sinh năm 1976; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 11/10/2024, chuyển tạm giam ngày 20/10/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Ngọc H2, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người chứng kiến:

Lê Văn V, sinh năm: 1992 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khu phố B, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 08/10/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, nên Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 bàn bạc với nhau góp mỗi người 75.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. T gọi điện thoại cho 01 đối tượng tên B ( Không rõ nhân thân, T không nhớ số điện thoại ) để mua 150.000 đồng ma túy đá, B đồng ý và hẹn giao tại đường H thuộc phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. T tắt điện thoại rồi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86 C1-509.41 đến điểm đã hẹn gặp đưa B 150.000 đồng, B đưa T 01 gói ny lon không màu, hàn kín, bên trong có chứa ma túy đá. Nhận được ma túy T mang về cất giấu dưới chậu cây cảnh trước phòng trọ số 5 của T và H1 thuê tại khu phố F, phường P, thành phố P. Đến tối cùng ngày, T lấy gói ma túy cất giấu dưới chậu cây cảnh, H1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của H1 mang ra gần bờ sông trước phòng trọ của T và H1 rồi T cắt gói ma túy đổ vào nỏ thủy tinh một ít để T và H1 cùng sử dụng. Sau khi sử dụng hết số ma túy trong nỏ, H1 đem bộ dụng cụ cất gần chậu cây cảnh, T hàn gói ma túy còn lại đem cất dưới chậu cây cảnh trước phòng trọ. (T và H1 đều biết chỗ cất giấu ma túy). Sau đó, H1 đi biển đánh cá, T vào phòng trọ ngủ.

Đến khoảng 22 giờ ngày 10/10/2024, Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1990, trú tại khu phố D, phường P sử dụng số điện thoại 0794.456.xxx gọi đến số điện thoại 0868.811.xxx của T để mua 150.000 đồng ma túy đá và nói T giao ma túy đến nhà cho H2, T đồng ý. Cùng lúc này thấy H1 đi biển về, T nói H1 ra chậu cây cảnh lấy gói ma túy mang đến nhà H2 giao và dặn H1 nếu H2 đưa tiền thì lấy 150.000 đồng mang về cho T, H1 đồng ý. Hai ra lấy 01 vỏ bánh nylon màu cam, bên trong có 01 gói nylon không màu, hàn kín, chứa ma túy đá cầm trong lòng bàn tay trái rồi mượn xe mô tô 86C1-509.41 của T điều khiển đến trước nhà của H2 tại T đường V thuộc khu phố F, phường P, thành phố P. Khi H1 chuẩn bị gọi H2 ra nhận ma túy thì Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh B phối hợp với tổ tuần tra 1818 Công an tỉnh B và Công an phường P tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay trái của H1 01 vỏ bánh nylon màu cam, có chữ “Super star” rách một đầu, bên trong vỏ bánh có 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (04x0,8)cm, chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của H1 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-509.41. Tổ công tác đưa H1 cùng tang vật về trụ sở để làm việc.

Quá trình điều tra, H1 và T đã thừa nhận toàn bộ hành vi góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng vào ngày 08/10/2024 và có bán ma túy cho H2 vào ngày 10/10/2024 như trên.

Vật chứng của vụ án:

  • Thu giữ từ Lê Văn H1:
    • Thu giữ trong lòng bàn tay trái của H1: 01 vỏ bánh nylon màu cam, có chữ "Super star" rách một đầu, bên trong vỏ bánh có 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (04 x 0,8)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (chỉ tiến hành niêm phong 01 gói nylon không màu, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và ký hiệu M khi giám định).
    • 01 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu xanh, mặt sau điện thoại có chữ Samsung, bên trong chứa sim số 0832026242, IMEI1: 357985640137056, IMEI2: 358356560137055, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
    • 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-509.41.
  • Thu giữ từ Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, có chữ OPPO, bên trong chứa sim số 0868811687, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong của T.

Sau khi làm việc với H1, Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường P tiến hành khám xét nơi ở của T tại khu phố F, phường P, thành phố P nhưng không phát hiện thu giữ được gì.

Tại bản Kết luận giám định số 1336/KL-KTHS ngày 18/10/2024 của Phòng K – Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1217 gam là Methamphetamine.

H3 lại đối tượng giám định: 01 gói nylon không màu, kích thước khoảng (04 x 0,8)cm đã cắt lấy mẫu và 0,1149 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1336 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.

Xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1336 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 vỏ bánh nylon màu cam, có chữ “Super star” rách một đầu; 01 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, có chữ OPPO, bên trong chứa sim số 0868811687, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu xanh, mặt sau điện thoại có chữ Samsung, bên trong chứa sim số 0832026242, IMEI1: 357985640137056, IMEI2: 358356560137055 là tài sản của Lê Văn H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho H1.

Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-509.41, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974, trú tại khu phố I, phường M, là cha ruột của Nguyễn Văn T, ông T1 cho T mượn xe để đi làm, không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho ông T1.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSPT-HS ngày 03/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 255, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T. 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm đến 05 năm tù; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn H1 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 năm đến 05 năm tù.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng thu giữ được theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên về hành vi phạm tội của mình cũng như lời kết tội của Kiểm sát viên.

Về lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 nói lời sau cùng rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra-Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[1.1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 không khiếu nại về thủ tục tố tụng.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Vào tối ngày 08/10/2024, tại trước phòng trọ số 5 của Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, T đã có hành vi cùng với H1 góp mỗi người 75.000 đồng để mua ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của T và H1.

Ngoài ra, vào khoảng 22 giờ ngày 10/10/2024, tại trước nhà Nguyễn Ngọc H2 ở địa chỉ số T đường V thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, H1 đã có hành vi giúp T đi bán 0,1217 gam Methamphetamine cho H2 thì bị Tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh B phối hợp với tổ tuần tra 1818 Công an tỉnh B và Công an phường P kiểm tra phát hiện bắt giữ.

[2.1] Bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 có hành vi góp mỗi người 75.000 đồng để mua ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích tổ chức đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của T và H1 nên T và H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngoài ra H1 đã có hành vi giúp T đi bán 0,1217 gam Methamphetamine cho Nguyễn Ngọc H2 nên T và H1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[2.2] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 thành khẩn khai báo nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Hình phạt: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và để răn đe, phòng, chống tội phạm chung.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) phong bì số 1336 chứa số ma túy còn lại sau giám định, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (Một) vỏ bánh nylon màu cam, có chữ “Super star" rách một đầu là những vật chứng thuộc loại nhà nước cấm lưu hành do vậy phải tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, có chữ OPPO, bên trong chứa sim số 0868811687 là vật chứng các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu xanh, mặt sau điện thoại có chữ Samsung, bên trong chứa sim số 0832026242, IMEI1: 357985640137056, IMEI2: 358356560137055 là tài sản của Lê Văn H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho H1 nên không xem xét, giải quyết.

Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 86C1-509.41, quá trình điều tra xác định: chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974, trú tại khu phố I, phường M, là cha ruột của Nguyễn Văn T, ông T1 cho T mượn xe để đi làm, không biết việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã trả lại cho ông T1 nên không xem xét, giải quyết.

[6] Qua điều tra xác định Nguyễn Ngọc H2 có hành vi gọi điện thoại cho T hỏi mua 150.000 đồng ma túy đá nhưng chưa nhận được ma túy từ T nên Cơ quan CSĐT – Công an thành phố P không xử lý hình sự đối với H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định H2 dương tính với Methamphetamine nên Cơ quan CSĐT– Công an thành phố P đã chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính đối với H2 là có căn cứ.

Đối với đối tượng tên B (Người đã bán ma túy cho T vào ngày 08/10/2024), do không xác định được nhân thân nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T và Lê Văn H1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (H1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2024.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H1 02 (H1) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (H1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (B1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2024.

2.Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì số 1336 chứa số ma túy còn lại sau giám định, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (Một) vỏ bánh nylon màu cam, có chữ “Super star” rách một đầu.
  • Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động loại cảm ứng màu trắng, có chữ OPPO, bên trong chứa 01 sim.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 111 ngày 12/02/2025 giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự hành phố P).

3.Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Văn H1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27-02-2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các Bị cáo
  • - VKSND tp. Phan Thiết
  • - Công an tp. Phan Thiết
  • - Người tham gia tố tụng
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú.
  • - Chi cục THADS tp.Phan Thiết
  • - Cổng TTĐT TANDTC
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 82/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger