|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 82/2025/HS-ST Ngày: 20-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Phạm Văn Tâm
- - Ông Trần Đăng Vạn
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Khắc V - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Trần Văn T (Tên gọi khác: Không có); Năm sinh: 1988; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký thường trú: 9 T, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Phòng trọ số 2, số A Đường H, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn H (chết) và bà Phạm Thị P (chết);
- - Bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 121/2010/HSST ngày 11/6/2010;
- - Ngày 29/7/2010, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt của Bản án sơ thẩm số 121/2010/HSST ngày 11/6/2010 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức. Buộc Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 10 năm tù theo Bản án số 160/2010/HSST ngày 29/7/2010. Đến ngày 21/5/2017 thì chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 18/8/2011 đã đóng án phí;
- - Ngày 07/01/2020, Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt hành chính số 0012474 và đã đóng phạt ngày 16/01/2020.
- Vũ Khánh N (Tên gọi khác: Không có); Năm sinh: 1995; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A Đường A, Khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông: Vũ Phước H1 và bà Phạm Thị V1; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- - Ngày 20/9/2013, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 259/2013/HSST. Ngày 01/9/2014 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 13/02/2014, đã đóng án phí.
- - Ngày 20/6/2017 và ngày 21/12/2019, bị Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và giao lại cho Công an phường B, quận T lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện nhưng xác minh Công an phường B không lập hồ sơ đưa N vào cơ sở cai nghiện.
Tiền án: Bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 465/2021/HS-ST ngày 16/11/2021. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2023. Tiền sự: Không. Nhân thân:
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1994; Địa chỉ: A Tỉnh lộ 43, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Ông Trịnh Văn T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: F T, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 25 phút ngày 26/01/2024, Công an phường T, thành phố T phối hợp với Tổ tuần tra 363 – Công an thành phố T kiểm tra hành chính phòng trọ số B, nhà trọ số A, đường số H, Khu phố E, phường T, thành phố T. Qua kiểm tra phát hiện trong phòng trọ có Trần Văn T (là người thuê phòng trọ số B), Nguyễn Văn S (gọi T bằng cậu) và Vũ Khánh N (là bạn T) và Trịnh Văn T1 (là bạn N). Lúc này, Trần Văn T khai có cất giấu ma túy trong phòng trọ và chỉ cho Công an thu giữ tại kệ bếp 01 hộp nhựa màu đen bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá dưới chân cầu thang cạnh kệ bếp (01 chai nhựa có nắp màu đỏ, nắp chai gắn 01 ống hút nhựa và 01 đoạn ống thủy tinh có 01 đầu hình phễu bên trong có chứa tinh thể màu vàng) và phát hiện 01 gói nylon chứa tinh thể không màu trên sàn nhà cách chỗ Vũ Khánh N ngồi khoảng 40cm nên Công an phường T lập biên bản thu giữ thu vật chứng và đưa T, S, N và T1 về trụ sở Công an phường T lập hồ sơ bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Văn T, khai nhận: Do cần mua ma túy đá để sử dụng, khoảng 08 giờ ngày 25/01/2024, T đi xe G lên khu vực dãy nhà trọ địa chỉ 26/16, khu phố B, phường A, thành phố D, Bình Dương gặp một người đàn ông tên Đ (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Sau đó T đón xe G khác đi về phòng trọ số 2 nhà số A, đường số H, Khu phố E, phường T, thành phố T rồi lấy một ít ma túy đổ vào nỏ sử dụng ma túy đốt lên sử dụng 01 lần nhưng chưa hết ma túy. Đến sáng ngày 26/01/2024, T tiếp tục sử dụng ma túy thêm 01 lần nữa rồi cất nỏ sử dụng ma túy vào sát tường cạnh bếp rồi mở nhạc hát Karaoke tại phòng.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/01/2024, Vũ Khánh N đến phòng trọ số 2 nhà số A, đường số H, Khu phố E, phường T, thành phố T gặp T thì thấy T đang hát karaoke trong phòng nên N vào nói chuyện với T được một lúc. Đến 17 giờ cùng ngày, N đi ra ngoài đường đón xe ôm đi đến khu vực trên đường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy đá. N xuống xe đi bộ đến gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng (tiền của N) ma túy đá thì người đàn ông đưa cho N 01 vỏ bao gói mì bên trong chứa 01 gói nylon chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, N bắt xe ôm về nhà trọ của T. Đến 19 giờ cùng ngày, N về đến trước cửa nhà trọ T, N lấy gói ma túy đá vừa mua bỏ vào trong bóp, còn vỏ bao gói mì N vứt ở ngoài đường rồi đi vào trong phòng T và đi thẳng vào nhà vệ sinh. Sau khi đi vệ sinh xong, N đi ra nhìn thấy dưới chân cầu thang có 01 nỏ sử dụng ma túy còn ma túy trong nỏ nên N tự cầm nỏ lên sử dụng 01 lần thì thấy mệt và nằm xuống lấy điện thoại nhắn tin cho Trịnh Văn T1 đến phòng trọ T chở N về nhà, nhắn tin xong N nằm ngủ.
Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn S sử dụng tài khoản Messenger tên “Yến N1” nhắn tin cho T với nội dung “Cậu ăn hủ tiếu không để mua”, T trả lời “Mua nước uống thôi, cậu không ăn”. Khoảng 02 phút sau S mua nước qua nhà T nói chuyện với T, N và T1. Đến khoảng 21 giờ 25 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an thành phố T đến kiểm tra thì N sợ bị phát hiện ma túy nên lấy gói ma túy trong bóp ra dùng tay trái đẩy gói ma túy đá vừa mua được ra ngoài cách chỗ ngồi khoảng 0,5 mét.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Vũ Khánh N khai nhận như nội dung trên. Ngoài ra, N còn khai nhận đến phòng trọ của Trần Văn T sử dụng ma túy 03 lần, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Vào ngày 23/01/2024, N cùng Trịnh Văn T1 đến phòng trọ của T để nhậu, trong lúc nhậu T cầm 01 bình sử dụng ma túy có sẵn ma túy đá trong bình ra để cho N và T1 cùng sử dụng, T là người cầm lên hút trước rồi để bình xuống nền nhà, đến T1 tự cầm bình lên hút rồi để bình xuống nền nhà và đến lượt N tự cầm bình lên hút. Sau khi nhậu và sử dụng ma túy xong T1 đưa cho N 100.000 đồng để N đưa cho T trả tiền mua mồi nhậu, rồi cả N và T1 đi về.
- - Lần thứ hai: Ngày 24/01/2024, N cùng T1 qua phòng trọ của T nhậu cùng với T, trong lúc nhậu T cầm bình sử dụng ma túy có sẵn ma túy đá trong bình ra rồi cả ba người cùng sử dụng. T tự cầm bình lên hút trước rồi để bình xuống nền nhà, đến T1 tự cầm bình lên hút rồi để xuống nền nhà và đến lượt N tự cầm bình lên hút rồi để xuống nền nhà. Sau khi nhậu và sử dụng ma túy xong T1 đưa cho N 100.000 đồng nhưng N không lấy vì mồi nhậu đã có sẵn.
- - Lần thứ ba: Vào ngày 26/01/2024, N đến phòng trọ của T thấy bình sử dụng ma túy đá có sẵn ma túy để ở chân cầu thang N tự lấy lên hút được 02 hơi thì mệt và nằm ngủ cho đến khi Công an đến kiểm tra.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trịnh Văn T1 khai nhận: Vào ngày 23/01/2024 và ngày 24/01/2024, T1 cùng với Vũ Khánh N đến phòng trọ của Trần Văn T sử dụng ma túy đá. Đến ngày 26/01/2024, T1 đến phòng trọ T để chở N về thì bị Công an đến kiểm tra. Lời khai của T1 phù hợp với lời khai của N.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Văn S khai nhận: S đã đến phòng trọ của Trần Văn T được 02 lần, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Ngày 21/01/2024, S đến phòng trọ của T chơi thì thấy bình sử dụng ma túy có sẵn ma túy đá trong bình nên S lấy hộp quẹt và tự cầm bình lên đốt và sử dụng được 03 hơi thì T thấy nhưng không nói gì. sau khi sử dụng ma túy xong S đưa cho T 100.000 đồng tiền mặt (T nghĩ S trả tiền nhậu trước đó) rồi đi về.
- - Lần thứ 2: Tối ngày 26/01/2024, S đến phòng trọ của T ngồi chơi với T, N và T1 nhưng chưa sử dụng ma túy thì bị Công an đến kiểm tra phát hiện thu giữ ma túy của T và N.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với T, N, S và T1 cho kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine và MDMA.
Kết luận giám định số 1963/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận:
- - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (trong hộp nhựa màu đen trên kệ bếp) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0343g, loại Methamphetamine.
- - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu trên sàn nhà là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5660g, loại Methamphetamine.
- - Tinh thể màu vàng trong 01 đoạn ống thủy tinh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2726g, loại Methamphetamine.
* Vật chứng và đồ vật thu giữ:
- - Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong (mã vụ 654/24) có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 01 tinh thể không màu có khối lượng 1,8199g; Gói 02 tinh thể không màu có khối lượng 0,5198g; Gói 03 tinh thể màu vàng có khối lượng 0,2349g;
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (chai nhựa có nắp chai màu đỏ, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình phễu);
- - 01 quẹt gas, 01 quẹt gas (tự chế);
- - 01 cái bóp màu đỏ, xanh dương có in chữ Arsenal (thu giữ của Vũ Khánh N) ;
- - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi8 màu xanh (thu giữ của Trần Văn T).
- - 01 điện thoại di động, kiểu A, Model Iphone 07 Plus (thu giữ của Vũ Khánh N)
Cáo trạng số 40/CT-VKSTPTĐ ngày 30/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Vũ Khánh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm Cáo Trạng đã truy tố và đề nghị xem xét xử phạt:
- + Trần Văn T từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 11 (mười một) năm đến 12 (mười hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc Trần Văn T chấp hành hình phạt tù chung từ 14 (mười bốn) năm đến 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Vũ Khánh N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Các bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, có thái độ khai báo đầy đủ, thành khẩn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn S, Trịnh Văn T1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt của Nguyễn Văn S và Trịnh Văn T1 không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt Nguyễn Văn S, Trịnh Văn T1.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn T, Vũ Khánh N tại phiên tòa là phù hợp với nhau và phù hợp nội dung: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường T, thành phố T lập ngày 26/01/2024; Biên bản Niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 26/01/2024; Biên bản Khám xét ngày 27/01/2024; Kết luận giám định số 1963/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H; Phù hợp lời khai của những người biết sự việc cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:
- - Vào khoảng 21 giờ 25 phút ngày 26/01/2024 tại phòng trọ số B, nhà trọ số A, đường số H, Khu phố E, phường T, thành phố T của Trần Văn T. Trần Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 2,3069 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng. Vũ Khánh N đã có hành vi cất giữ trái phép 0,5660 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng.
- - Ngoài ra, ngày 21/01/2024, Trần Văn T cung cấp trái phép ma túy, địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy để cho Nguyễn Văn S sử dụng ma túy; ngày 23/01/2024 và ngày 24/01/2024, Trần Văn T cung cấp trái phép ma túy, địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy để cho Vũ Khánh N và Trịnh Văn T1 sử dụng ma túy; ngày 26/01/2024, Trần Văn T cung cấp trái phép ma túy, địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy để cho Vũ Khánh N sử dụng ma túy.
Là: bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong trường hợp “Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A1, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” trong trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Vũ Khánh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong trường hợp “Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A1, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Các bị cáo Trần Văn T, Vũ Khánh N là những đối tượng hình sự đã nhiều lần bị xử phạt tù, trong đó Trần Văn T có một tiền án chưa được xóa án tích nhưng khi hết án tha tù trở về cuộc sống bình thường của xã hội lại đua đòi ăn chơi, muốn thỏa mãn thú vui thấp kém của bản thân nên đã trượt sâu vào con đường lạm dụng chất ma túy, bất chấp sự trừng trị nghiêm khắc của pháp luật. Hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do các bị cáo Trần Văn T, Vũ Khánh N thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu và tàng trữ trái phép các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn và cuộc sống của người dân xung quanh. Tuy nhiên cũng xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và có thái độ ăn năn hối lỗi.
Do đó, khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 và Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, nghĩ cần:
- + Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” đối với Trần Văn T; Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, Tòa án sẽ quyết định hình phạt, có hình phạt tù nghiêm và tương xứng đối với từng tội và tổng hợp hình phạt, buộc Trần Văn T phải chịu một hình phạt tù chung cho cả hai tội bằng cách cộng hình phạt.
- + Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có hình phạt tù nghiêm và tương xứng đối với Vũ Khánh N.
Xét đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về mức hình phạt cho mỗi bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận.
Đối với Nguyễn Văn S và Trịnh Văn T1 đến phòng trọ của Trần Văn T sử dụng ma túy nhưng ma túy, công cụ sử dụng và địa điểm là của T, quá trình sử dụng ma túy không phụ giúp T cà nấu hay chuyền tay nhau khi sử dụng; không hùn tiền mua ma túy chung T và Vũ Khánh N nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên “Đen” bán ma túy cho Trần Văn T và người đàn ông (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Vũ Khánh N. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[4] Vật chứng vụ án.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Nghĩ cần:
- - Tịch thu tiêu hủy tang vật là phương tiện thực hiện tội phạm, ma túy còn lại sau giám định, không còn giá trị sử dụng và không có nhu cầu nhận lại:
- + Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong (mã vụ 654/24) có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 01 tinh thể không màu có khối lượng 1,8199g; Gói 02 tinh thể không màu có khối lượng 0,5198g; Gói 03 tinh thể màu vàng có khối lượng 0,2349g;
- + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (chai nhựa có nắp chai màu đỏ, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình phễu);
- + 01 quẹt gas thường, 01 quẹt gas (tự chế);
- + 01 cái bóp màu đỏ, xanh dương có in chữ Arsenal (thu giữ của Vũ Khánh N);
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước các tài sản liên quan đến việc thực hiện tội phạm, gồm: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi8 màu xanh (thu giữ của Trần Văn T); 01 điện thoại di động, kiểu A, Iphone 07 Plus (thu giữ của Vũ Khánh N).
[5] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố: các bị cáo Trần Văn T, Vũ Khánh N phạm Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T phạm Tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Trần Văn T 03 (Ba) năm tù về Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng: điểm a, b Khoản 1 Điều 255; Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Trần Văn T 12 (Mười hai) năm tù về T2 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt, buộc Trần Văn T phải chấp hành một hình phạt tù chung cho cả 02 tội là 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
- Áp dụng: điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Vũ Khánh N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về Tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong (mã vụ 654/24) có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 01 (tinh thể không màu có khối lượng 1,8199g; Gói 02 tinh thể không màu có khối lượng 0,5198g; Gói 03 tinh thể màu vàng có khối lượng 0,2349g; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (chai nhựa có nắp chai màu đỏ, 01 ống hút nhựa, 01 đoạn ống thủy tinh có một đầu hình phễu); 01 quẹt gas thường, 01 quẹt gas (tự chế); 01 cái bóp màu đỏ, xanh dương có in chữ A2 (thu giữ của Vũ Khánh N).
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Mi8 màu xanh (thu giữ của Trần Văn T); 01 điện thoại di động, kiểu A, Iphone 07 Plus (thu giữ của Vũ Khánh N).
- (Tang vật, tài sản tịch thu tiêu hủy, sung công quỹ nhà nước được ghi trong Biên bản giao nhận tang tài vật số 127C ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức).
- Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tùng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tùng |
Bản án số 82/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 82/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T-Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túyvà Tàng trữ trái phép chất ma túy
