|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án: 82/2025/HSST. Ngày: 13/2/2025. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến
Bà Nguyễn Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký TAND TP Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 13/2/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2025/HSST ngày 16/01/2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2025/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo: Đàm Thị Lan H - sinh năm: 1981; số CCCD: [...]; nơi cư trú: Số nhà D T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Đàm Quang H1 và con bà Lê Thị C; chồng là: Vũ Văn Đ và có 02 con lớn sinh năm 2004; nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Chị Hồ Thị H2 - Sinh năm 1970 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: SN A N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Đàm Thị Lan H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 16/12/2024, Đàm Thị Lan H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Airblade, BKS 36B5-841.92 đến cửa hàng bán quần áo cũ của chị Lê Thị H3 (sinh năm 1972) tại Lô 206 chợ Đ1, phường Đ, thành phố T để tìm mua quần áo. Quá trình thử quần áo, H thấy 01 chiếc áo phao màu đen (của chị Hồ Thị H2, sinh năm 1970, trú tại A N, phường N, thành phố T) vắt trên giá để quần áo tại cửa hàng, nên H đã lấy mặc thử thì phát hiện bên trong túi áo khoác phải có một chiếc hộp nhựa hình tròn màu đỏ, H lắc thấy bên trong thấy có tiếng kim loại, nghĩ trong đó có vàng nên đã mở túi áo khoác lấy chiếc hộp bỏ vào túi của áo mình và để chiếc áo khoác lại vị trí cũ rồi nhanh chóng rời khỏi cửa hàng. Trên đường đi, H dừng xe lại mở chiếc hộp ra xem thấy 01 sợi dây chuyền bằng vàng nên đem về nhà cất giấu. Đến 17 giờ cùng ngày, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên H đến Công an thành phố T đầu thú, giao nộp sợi dây chuyền để phục vụ công tác điều tra.
Kết luận giám định xác định: 01 dây chuyền kim loại vàng, chế tác dạng các mắt xích nối với nhau có tổng khối lượng 37,51 gam là vàng (A), hàm lượng (A) trung bình 99,80%.
Kết luận định giá tài sản xác định: 01 dây chuyền vàng (Au), có tổng khối lượng 37,51 gam, hàm lượng vàng (A) trung bình là 99,80% chế tác các mắt xích nối với nhau trị giá 82.834.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý: 01 dây chuyền vàng (Au), có tổng khối lượng 37,51 gam, hàm lượng vàng (A) trung bình là 99,80% chế tác các mắt xích nối với nhau. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hồ Thị H2 là chủ sở hữu hợp pháp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Cáo trạng số 36/CT - VKSTPTH ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố Đàm Thị Lan H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo từ 25 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 50 đến 60 tháng. Về trách nhiêm dân sự: Công nhận bị hại chị Hồ Thị H2 nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Vào khoảng 09 giờ ngày 16/12/2024, tại quầy bán quần áo ở Lô 206 chợ Đ1, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa Đàm Thị Lan Hường đã có hành vi trộm cắp 01 dây chuyền vàng, có tổng khối lượng 37,51 gam, hàm lượng vàng (A) trung bình là 99,80%, trị giá 82.834.000 đồng của chị Hồ Thị H2.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đã đánh giá đúng tính chất hành vi nguy hiểm của tội phạm, đồng thời vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đàm Thị Lan H về tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì bị cáo Đàm Thị Lan H trộm cắp tài sản có giá trị chiếm đoạt trên 50 triệu đồng, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 173 của BLHS.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này thực hiện vào ban ngày, do không có chủ định phạm tội chỉ vì xuất phát từ lòng tham, gặp cơ hội bị cáo đã lợi dụng sự mất cảnh giác của bị hại nhanh chóng tiếp cận và lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an nơi công cộng, gây dư luận xấu, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.
Vị bị cáo Đàm Thị Lan H nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội do bột phát và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với lỗi lầm của mình; tự nguyện khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo; sau khi phạm tội đến Cơ quan Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tham gia ủng hộ quỹ tết vì người nghèo năm 2024; bị cáo có bố đẻ được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến công hạng 3; Huy chương kháng chiến hạng Nhì và bố đẻ của bị cáo đang được hưởng chính sách người bị nhiễm chất độc hoá học, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên việc cách ly khỏi xã hội đối với bị cáo là chưa cần thiết mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, sớm trở thành người lương thiện.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị hại chị Hồ Thị H2 đã nhận lại 01 dây chuyền vàng do bị cáo chiếm đoạt.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1 Mục I phần A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đàm Thị Lan H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đàm Thị Lan H 27(Hai bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54(Năm tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đàm Thị Lan H cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị hại chị Hồ Thị H2 đã nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản ản sơ thẩm hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh |
Bản án số 82/2025/HSST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 82/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
