|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST
Ngày 07 - 02 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Khắc Chung và ông Nguyễn Ngọc Bờ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận -Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 768/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024, về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 818/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số I, tổ D, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số B, tổ G, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày và có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Giữa bà Trần Thị X và ông Huỳnh Văn P do gia đình mai mối và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2015, có tổ cức lễ cưới, có đăng ký kết hôn trễ hạn theo giấy chứng nhận kết hôn số 92 ngày 31/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, sau này thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông P.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Huỳnh Tấn K, sinh ngày 21/3/2010 và Huỳnh Khánh D, sinh ngày 28/11/2012. Hiện nay các con chung đang sống cùng ông P. Sau khi ly hôn, bà X đồng ý giao các con chung tên Huỳnh Tấn K, sinh ngày 21/3/2010 và Huỳnh Khánh D, sinh ngày 28/11/2012 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Xuân K1 yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Huỳnh Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Huỳnh Văn P không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Trần Thị X khởi kiện ông Huỳnh Văn P cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang yêu cầu ly hôn, giải quyết về nuôi con chung. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xác định quan hệ pháp luật là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Trần Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 30/12/2024, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Trần Thị X. Ông Huỳnh Văn P đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Huỳnh Văn P vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị X và ông Huỳnh Văn P.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Trần Thị X và ông Huỳnh Văn P là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị X, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Huỳnh Văn P không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị X. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị X là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Trần Thị X được ly hôn với ông Huỳnh Văn P.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo giấy khai sinh của Huỳnh Tấn K và Huỳnh Khánh D cũng như lời trình bày của bà Trần Thị X và nội dung biên bản xác minh tại Văn phòng ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang thì giữa bà X và ông Huỳnh Văn P có con chung chưa thành niên tên Huỳnh Tấn K, sinh ngày 21/3/2010 và Huỳnh Khánh D, sinh ngày 28/11/2012 hiện do ông Huỳnh Văn P đang nuôi dưỡng, chăm sóc.
Xét thấy, theo tài liệu chứng cứ hồ sơ vụ án thể hiện các con chung được ông Huỳnh Văn P giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt nên bà Trần Thị X đồng ý cho ông Huỳnh Văn P được nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Huỳnh Tấn K, sinh ngày 21/3/2010 và Huỳnh Khánh D, sinh ngày 28/11/2012 cho ông Huỳnh Văn P được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Bà Trần Thị X có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Ông Huỳnh Văn P và các thành viên trong gia đình của ông Huỳnh Văn P không được cản trở bà Trần Thị X thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Ông Huỳnh Văn P không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị X trình bày giữa bà và ông Huỳnh Văn P về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Huỳnh Văn P để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[3] Về án phí: Bà Trần Thị X là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị X và ông Huỳnh Văn P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 92, ngày 31/8/2015 do Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Trần Thị X và ông Huỳnh Văn P không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ nuôi con: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Huỳnh Tấn K, sinh ngày 21/3/2010 và Huỳnh Khánh D, sinh ngày 28/11/2012.
- Giao con chung chưa thành niên tên Huỳnh Tấn K, sinh ngày 21/3/2010 và Huỳnh Khánh D, sinh ngày 28/11/2012 cho ông Huỳnh Văn P được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
Bà Trần Thị X có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Ông Huỳnh Văn P và các thành viên trong gia đình của ông Huỳnh Văn P không được cản trở ông Huỳnh Văn P thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Ông Huỳnh Văn P không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Giao con chung chưa thành niên tên Huỳnh Tấn K, sinh ngày 21/3/2010 và Huỳnh Khánh D, sinh ngày 28/11/2012 cho ông Huỳnh Văn P được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp nếu có tranh chấp liên quan đến tài sản chung hoặc nợ chung thì sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Trần Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009152 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Trần Thị X đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị X và ông Huỳnh Văn P vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết Mai |
Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị X và ông Huỳnh Văn P.
