|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/DS-ST
Ngày: 16/12/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
2. Bà Lương Thị Thu An
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà:
Ông Huỳnh Văn Thành - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 và 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 154/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 180/2024/QĐST-DS ngày 11/11/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C; Trụ sở chính tại: A T, Quận H, Thành Phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Quang Anh Q- Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP C; Người nhận ủy quyền lại để tham gia tố tụng: Ông Trương Hồng M- Trưởng phòng Phòng G ( có mặt ngày 10/12/2024) và ông Nguyễn Duy L – Phó phòng G ( có mặt ngày 16/12/2024);
- Bị đơn: Bà Mạc Thị O; năm sinh: 1976; HKTT: Khu phố C, Phường M, Thị Xã C), Tỉnh Bình Phước; Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1971; HKTT: Thiệu Trung, T, Thanh Hóa. ( vắng mặt);
Cùng tạm trú tại: Khu phố A, Phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là ngân hàng TMCP C (sau đây viết tắt là ngân hàng V) và người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Trương Hồng M thống nhất trình bày:
Bà Mạc Thị O và chồng là ông Nguyễn Xuân T có ký kết với Ngân Hàng TMCP C - Chi nhánh B1 các hợp đồng cho vay như sau:
Hợp đồng cho vay số TUANBM1-026/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 06/10/2022, số tiền vay là 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng), mục đích vay là thanh toán chi phí nhận quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 306 & 307, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất tại ấp E, xã M, huyện C (nay là khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước và chi phí xây dựng nhà ở phục vụ đời sống mà khách hàng đã ứng vốn chủ sở hữu, thời hạn vay là 280 tháng, lãi suất trong hạn tại thời điểm ký Hợp đồng cho vay là 12,5%/năm, khách hàng nhận đủ tiền vay 7.000.000.000 đồng, dư nợ gốc đến ngày 05/04/2024 là: 6.600.000.000 đồng, tiền lãi vay (đến hết ngày 05/04/2024) là 143.325.871 đồng, tổng số tiền phạt quá hạn là 1.306.781 đồng.
Hợp đồng cho vay số TUANBM-023/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 12/08/2022, số tiền vay 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng, đồ trang trí nội thất, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn tại thời điểm ký Hợp đồng cho vay là 9,5%/năm, dư nợ gốc hiện tại đến ngày 05/04/2024 là: 5.000.000.000 đồng, tiền lãi vay (đến hết ngày 05/04/2024) là 116.328.521 đồng, tổng số tiền phạt quá hạn là 1.868.666 đồng.
Từ 12/08/2022 đến ngày 25/01/2024, khách hàng đã thanh toán đủ tiền lãi vay trong hạn định kỳ theo quy định.
Về tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho các hợp đồng cho vay nêu trên, bà O và ông T đã thế chấp tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thông tin như sau:
Thửa đất số 142; Tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Ấp A, xã T, huyện C (nay là Khu phố A, phường T, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CC 376134, số vào sổ cấp GCN: CS - 00030 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/02/2016. Căn cứ theo hợp đồng thế chấp bất động sản số TUANBM-026/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 06/10/2022.
Thửa đất số 306, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Hồ sơ pháp lý: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372794, số vào sổ cấp GCN: CS 09705 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023B/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
Thửa đất số 307, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372796, số vào sổ cấp GCN: CS 09706 do Sở tài nguyên và Môi trường Tỉnh B cấp ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023C/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
Đến ngày 25/01/2024 là ngày đến hạn thanh toán khoản vay trên, tuy nhiên, đến ngày 05/04/2024, bà O và ông T vẫn chưa thanh toán số tiền đã vay cùng các
khoản lãi, phí phát sinh theo Hợp đồng, vi phạm thỏa thuận tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng về thanh toán phí, lãi và nợ gốc của Hợp đồng cho vay.
Như vậy, tính đến ngày 05/04/2024, bà Mạc Thị O và ông Nguyễn Xuân T còn nợ Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B1 tổng số tiền tạm tính là: 11.862.829.840 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 11. 600.000. 000 đồng, số tiền lãi vay là 259.654.392 đồng, số tiền phạt quá hạn là 3.175.448 đồng. Do đó, căn cứ các Hợp đồng cho vay, Hợp đồng thế chấp mà các bên đã ký kết, các quy định của pháp luật liên quan, Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B1 khởi kiện đối với bà Mạc Thị O và ông Nguyễn Xuân T tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đề nghị Toà án giải quyết các nội dung sau đây:
Buộc bà Mạc Thị O ông Nguyễn Xuân T phải trả cho Ngân hàng TMCP C toàn bộ số tiền gốc, lãi vay, lãi phạt quá hạn tạm tính đến thời điểm ngày 05/04/2024 là: 11.862.829.840 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 11.600.000.000 đồng, số tiền lãi vay là 259.654.392 đồng, số tiền phạt quá hạn là 3.175. 448 đồng.
Buộc bà Mạc Thị O, ông Nguyễn Xuân T tiếp tục trả nợ lãi vay, lãi phạt quá hạn và các khoản phí phát sinh cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay, các văn bản sửa đổi bổ sung, thông báo thay đổi lãi suất cho vay cho đến khi trả hết nợ xong.
Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Mạc Thị O không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, chủ tài sản bảo đảm không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bảo đảm như đã cam kết thì Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, bán các tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CC 376134, số vào sổ cấp GCN: CS - 00030 do Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Tỉnh B cấp ngày 23/02/2016, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372794, số vào sổ cấp GCN: CS 09705 do Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Tỉnh B cấp ngày 01/06/2022 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372796, số vào sổ cấp GCN: CS 09706 do Sở tài Nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 01/06/2022 để thu hồi tất cả các nghĩa vụ nợ phát sinh cho Ngân hàng.
Bị đơn ông Nguyễn Xuân T và bà Mạc Thị O mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ về các văn bản tố tụng và yêu cầu có văn bản trình bày ý kiến nhưng ông T bà O không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.
Vào ngày 11/9/2024, Tòa án tổ chức phiên họp để kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ 2 thì ông T bà O có mặt, có trình bày ý kiến như sau: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền vay gốc và thời gian vay.
Về lãi suất cho vay: Do hiện nay Ngân hàng vẫn giữ nguyên lãi suất khi vay là rất cao so với mặt bằng chung của các Ngân hàng khác nên vợ chồng ông bà không có khả năng trả nợ lãi theo đúng hợp đồng. Ông bà đã nhiều lần liên hệ với Ngân hàng yêu cầu giảm lãi nhưng chưa được chấp nhận. Vì vậy, nay ông T bà O đề nghị Ngân hàng
kiểm tra lại số tiền lãi phát sinh và giảm lãi suất cho ông bà để ông bà có khả năng trả nợ. Chứ hiện nay ông bà chưa có khả năng trả nợ cho Ngân hàng.
Tuy nhiên, ông T bà O không ký vào biên bản công khai chứng cứ và biên bản hòa giải mà ra về. Do vậy, các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của Ngân hàng V ông Trương Hồng M và ông Nguyễn Duy L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà Mạc Thị O ông Nguyễn Xuân T phải trả cho Ngân hàng TMCP C Chi nhánh B1 toàn bộ số tiền gốc, lãi vay, lãi phạt quá hạn tạm tính đến thời điểm ngày 16/12/2024 là: 12.243.212.446 đồng (mười hai tỷ, hai trăm bốn mươi ba triệu, hai trăm mười hai nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 11.452.636.975 đồng, số tiền lãi vay là 692.956.856 đồng, số tiền phạt quá hạn là 3.175.448 đồng.
- Buộc bà Mạc Thị O ông Nguyễn Xuân T tiếp tục trả nợ lãi vay, lãi phạt quá hạn và các khoản phí phát sinh cho Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 theo mức lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay, các văn bản sửa đổi bổ sung, thông báo thay đổi lãi suất cho vay cho đến khi trả hết nợ xong.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Mạc Thị O không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, chủ tài sản bảo đảm không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ bảo đảm như đã cam kết thì Ngân hàng TMCP C - Chi nhánh B1 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, xử lý các tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CC 376134, số vào sổ cấp GCN: CS - 00030 do Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Tỉnh B cấp ngày 23/02/2016, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372794, số vào sổ cấp GCN: CS 09705 do Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Tỉnh B cấp ngày 01/06/2022 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372796, số vào sổ cấp GCN: CS 09706 do Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Tỉnh B cấp ngày 01/06/2022 để thu hồi tất cả các nghĩa vụ nợ phát sinh cho Ngân hàng.
- Bị đơn ông Nguyễn Xuân T và bà Mạc Thị O vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117,
118, 119, 282, 385, 398, 401 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP C: Buộc ông Nguyễn Xuân T và bà Mạc Thị O phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Buộc ông T bà O phải tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thực tế trả hết nợ gốc cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng mà các bên đã ký kết.
Trường hợp ông T bà O không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông T bà O là các Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất: Thửa đất số 142; tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: ấp A, xã T, huyện C (nay là Khu phố A, phường T, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CC 376134, số vào sổ cấp GCN: CS - 00030 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 23/02/2016. Căn cứ theo hợp đồng thế chấp bất động sản số TUANBM-026/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 06/10/2022.
Thửa đất số 306, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Hồ sơ pháp lý: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372794, số vào sổ cấp GCN: CS 09705 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023B/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
Thửa đất số 307, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372796, số vào sổ cấp GCN: CS 09706 do Sở tài nguyên và Môi trường Tỉnh B cấp ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023C/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
Về nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng đề nghị HĐXX xem xét phù hợp với quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ngân hàng TMCP C, yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Xuân T và bà Mạc Thị O phải trả nợ số tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết, nên HĐXX xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn, ông T bà O có đăng ký tạm trú tại khu phố A, phường T, thị xã C, tỉnh Bình Phước và hiện nay đang sinh sống ở địa chỉ này nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành có thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Theo 02 Hợp đồng cho vay số TUANBM1-026/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 06/10/2022 và số TUANBM-023/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 12/08/2022 giữa Ngân hàng TMCP C và ông T bà O do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Những người tham gia ký kết hợp đồng đều đúng thẩm quyền, ký kết trên tinh thần tự nguyện; mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng được lập thành văn bản theo đúng quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119, 385, 398, 401 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng do vậy hợp đồng tín dụng này là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Tại buổi hòa giải và công khai chứng ngày 11/9/2024 phía ông T bà O cũng có thừa nhận về việc có ký kết với Ngân hàng 02 hợp đồng tín dụng nêu trên. Ngày 25/01/2024 là ngày đến thời hạn thanh toán toán khoản vay nhưng đến thời điểm Ngân hàng khởi kiện là ngày 05/4/2024 thì ông T bà O vẫn chưa thanh toán số tiền vay và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết giữa hai bên nên vi phạm nghĩa vụ theo 02 hợp đồng tín dụng nói trên.
Theo lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thì quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án phía ông T bà O có trả thêm cho Ngân hàng một số tiền lãi và gốc theo bảng sao kê Giao dịch tài khoản tiền vay đến ngày 15/12/2024. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc ông T bà O có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng và vi phạm nghĩa vụ là có căn cứ.
[3] Đối với hợp đồng tín dụng số TUANBM1-026/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 06/10/2022, số tiền vay là 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng), mục đích vay là thanh toán chi phí nhận quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số 306 & 307, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất tại ấp E, xã M, huyện C (nay là Khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước và chi phí xây dựng nhà ở phục vụ đời sống mà khách hàng đã ứng vốn chủ sở hữu, thời hạn vay là 280 tháng, lãi suất trong hạn tại thời điểm ký Hợp đồng cho vay là 12,5%/năm, khách hàng nhận đủ tiền vay 7.000.000.000 đồng, dư nợ gốc đến ngày 16/12/2024 là: 6.525.000.000 đồng, tiền lãi cộng dồn là 448.787.068 đồng; Lãi phạt cộng dồn là 28. 048, lãi phạt do chậm trả lãi là 24,959,938 đồng. Tổng số tiền cón phải thanh toán theo Hợp đồng tín dụng này là 6.998.775.054 đồng.
Hội đồng xét xử, thấy: Theo giấy nhận nợ số 01 ngày 06/10/2022 thì bà O ông T được giải ngân số tiền 4,2 tỷ đồng, ngày trả nợ tiền gốc được đính kèm là ngày 25 hàng tháng đến thời điểm kết thúc là ngày 06/2/2046, mỗi tháng trả 15.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi tại thời điểm ký giấy nhận nợ là 12,5%/năm. Lãi sau đó sẽ được điều chỉnh hàng tháng vào ngày 25 của tháng theo thỏa thuận tại hợp đồng số TUANBM1-026/2022/HĐCV/NHCT504; Giấy nhận nợ số 02 ngày 07/10/2022, số tiền giải ngân là 2,8 tỷ đồng, ngày trả tiền nợ gốc là 25 hàng tháng, mỗi tháng trả 10
triệu đồng tiền gốc và kết thúc vào ngày 06/2/2046, tiền lãi phát sinh tháng đầu tiên là 12,5%/năm;
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng thì lãi suất vẫn duy trì ở mức 12,5%/năm. Tuy nhiên, hiện nay do lãi suất trung bình trên thị trường thay đổi nên mức lãi suất được điều chỉnh, và theo trình bày của Ngân hàng thì đối với hợp đồng này mức lãi suất điều chỉnh theo Công văn số 165/CN/P.TH +P.KHBL+ P.KHDN về việc: Quy định lãi suất cho vay do Giám đốc Chi nhánh B1 ký ban hành ngày 20/11/2023 thì mức lãi suất giới hạn đối với khoản vay trung và dài hạn, mục đích cho vay tiêu dùng thông thường thì mức lãi suất giới hạn là 12,7%/năm. Nhưng, theo bảng liệt kê lãi suất áp dụng của Ngân hàng cung cấp thì từ thời điểm ngày 25/8/2023 đến ngày 16/12/2024 thì mức lãi suất áp dụng đối với hợp đồng tín dụng số TUANBM1-206/2022/HĐCN/NHCT504 ngày 06/10/2022 Ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất là 11,7%/năm. Như vậy, mặc dù ông T bà O cho rằng phía Ngân hàng đang áp dụng mức lãi suất hàng tháng cao hơn mức lãi suất Ngân hàng thỏa thuận với ông bà, tuy nhiên như phân tích ở trên thì so với quy định của Chi nhánh Ngân hàng TMCP C tại Bình Phước thì mức lãi suất hiện nay Ngân hàng đang áp dụng so với quy định của Ngân hàng là thấp hơn 11,7%/ năm so 12,7 %/ năm là có lợi cho bị đơn nên có căn cứ được chấp nhận.
[4] Đối với Hợp đồng cho vay số TUANBM-023/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 12/08/2022, số tiền vay 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh vật liệu xây dựng, đồ trang trí nội thất, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn tại thời điểm ký Hợp đồng cho vay là 9,5%/năm, dư nợ đến ngày 16/12/2024 là: 5.244.437.392 ( năm tỷ, hai trăm bốn mươi bốn triệu, bốn trăm ba mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi hai đồng); Trong nọ gốc là 5.000.000.000 đồng, tiền lãi vay cộng dồn là 244.169.788, tiền lãi phạt cộng dồn là 61.488.355 và lãi phạt do chậm trả lãi là 11.142.274;
Xét thấy: Theo giấy nhận nợ số 04 ngày 09/8/2023 và 05 ngày 17/8/2023 thì số tiền đã giải ngân là 5 tỷ đồng lãi suất cho vay là 10.7%/năm và được điều chỉnh hàng tháng tương tự như Hợp đồng tín dụng số TUANBM1-026/2022/HĐCV/NHCT504 và căn cứ theo Công văn số 165/CN/P.TH +P.KHBL+ P.KHDN về việc: Quy định lãi suất cho vay do Giám đốc Chi nhánh B1 ký ban hành ngày 20/11/2023 thì mức lãi suất giới hạn đối với khoản vay ngắn hạn thì lãi suất giới hạn cho phép là 10.7%/năm.
Đối chiếu với mức lãi suất liệt kê tại bảng tính lãi suất của Ngân hàng cung cấp thì từ 25/10/2023 đến 16/12/2024 Ngân hàng đang áp dụng mức lãi đối với khoản vay này là 10,5%/năm, có lợi cho bị đơn và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số TUANBM-023/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 12/08/2022 nên có căn cứ được chấp nhận.
Do đó, việc Ngân hàng V khởi kiện ông T bà O yêu cầu trả nợ cho Ngân hàng về số tiền gốc và lãi phát sinh theo 02 hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán là có căn cứ.
[5] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bà O và ông T còn phải chịu tiền nợ lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng sau thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi ông bà hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngân hàng.
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì yêu cầu trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trường hợp ông T bà O không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng, HĐXX xét thấy:
Theo điều khoản mà các bên đã ký kết trong các Hợp đồng thế chấp về việc thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc Thửa đất số: 142, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại: Ấp A, Xã T, Huyện C (nay là khu phố A, phường T, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CC 376134, số vào sổ cấp GCN: CS - 00030 do Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 23/02/2016. Căn cứ theo hợp đồng thế chấp bất động sản số TUANBM-026/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 06/10/2022.
Thửa đất số 306, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là Khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372794, số vào sổ cấp GCN: CS 09705 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023B/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
Thửa đất số 307, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372796, số vào sổ cấp GCN: CS 09706 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023C/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
Xét thấy: Các hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật đất đai và phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự hiện hành nên có hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu ông T bà O trong trường hợp không trả được toàn bộ số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với ông bà là có căn cứ phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí và chi phí tố tụng:
Căn cứ Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ;
Do đó, ông Trần Xuân T1 và bà Mạc Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.243.212 đồng (Một trăm hai mươi triệu, hia trăm bốn mươi ba nghìn, hai trăm mười hai đồng);
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 4.000.000 đồng( bốn triệu đồng), ông T1 bà O phải chịu.
[5] Quan điểm của đại diện VKS là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 147, 157, Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 116, 117, 118, 119 và Điều 280, 282, 292, 299, 301, 303, 317, 385, 398, 401 của Bộ luật Dân sự;
Các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 7, Điều 8, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C:
1.1 Buộc ông Nguyễn Xuân T và bà Mạc Thị O phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP C số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh theo 02 hợp đồng tín dụng số TUANBM1-026/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 06/10/2022; số TUANBM-023/2022/HĐCV/NHCT504 ngày 12/08/2022 và các Giấy nhận nợ mà hai bên đã ký kết tính đến ngày 16/12/2024 là: 12.243.212.446 đồng (mười hai tỷ, hai trăm bốn mươi ba triệu, hai trăm mười hai nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 11.452.636.975 đồng, số tiền lãi vay là 692.956.856 đồng, số tiền phạt quá hạn là 3.175.448 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông T bà O phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo 02 Hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ cho đến ngày thực tế ông T bà O trả hết nợ gốc cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại 02 hợp Hợp đồng;
1.2 Trường hợp ông T bà O không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Thửa đất số: 142, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại: Ấp A, Xã T, Huyện C (nay là khu phố A, phường T, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CC 376134, số vào sổ cấp GCN: CS - 00030 do Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 23/02/2016. Căn cứ theo hợp đồng thế chấp bất động sản số TUANBM-026/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 06/10/2022.
Thửa đất số 306, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là Khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372794, số vào sổ cấp GCN: CS 09705 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp
ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023B/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
Thửa đất số 307, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: Ấp E, xã M, huyện C (nay là khu phố E, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DE 372796, số vào sổ cấp GCN: CS 09706 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/06/2022. Căn cứ theo Hợp đồng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số TUANBM-023C/2022/HĐBĐ/NHCT504 ngày 12/08/2022.
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Xuân T và bà Mạc Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 120.243.212 đồng (Một trăm hai mươi triệu, hia trăm bốn mươi ba nghìn, hai trăm mười hai đồng);
Trả lại cho Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.932.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004060 ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành.
Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 4.000.000 đồng( bốn triệu đồng), ông T bà O phải chịu. Do Ngân hàng đã đóng tạm ứng, ông T bà O có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ đã ký Dương Thị Thúy |
Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 82/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Vietinbank khởi kiện bà Mạc Thị O, ông Nguyễn Xuân T