TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày: 12 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đức Sơn
2. Ông Nguyễn Đức Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, sinh năm 1970 tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ: Nguyễn Thị M; con có 01 người. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Bị hại: Phạm Vương Q, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ C, khu phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
Hoàng Thị Thanh N, sinh năm 2002; nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 21/5/2024, Nguyễn Đức T, sinh năm 1970, trú thôn C, xã Đ, huyện Đ, chạy xe mô tô biển số 67FE – 9001 đi nhậu về đến nhà rú ga, nẹt bô làm ồn ào các nhà xung quanh. Phạm Vương Q, sinh năm 2000, trú khu phố F, thị trấn Đ, huyện Đ về nhà mẹ vợ gần nhà Nguyễn Đức T để chăm vợ sắp sinh đứng bên hàng rào nói chuyện với Nguyễn Đức T về việc T không nên nẹt bô, rú ga khi chạy xe về tới nhà làm ảnh hưởng hàng xóm thì T thách thức. Phạm Vương Q bực tức lấy 02 đoạn cây sắt cầm đi qua nhà T và dùng cây sắt đập làm bể 02 kính chiếu hậu xe mô tô 67FE – 9001 của T dựng trước nhà mục đích hù T không rú ga, nẹt bô khi chạy xe mô tô về nhà nữa. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976 vợ T ra nói chuyện với Q. Lúc này Nguyễn Đức T đi ra bàn ghế gỗ gần cổng nhà ngồi. Vợ Phạm Vương Q là Hoàng Thị Thanh N, sinh năm 2002 đi qua nhà T kéo Q về. Khi Q và N đi gần đến bàn T ngồi thì T cầm dao Thái Lan có sẵn trên bàn đi tới dùng dao đâm trúng vào tay trái, vào nách trái của Q, sau đó Q và T giằng co kéo nhau ra tới cổng trước nhà T. Q dùng tay đánh mấy cái vùng đầu, vào mặt Nguyễn Đức T. Khi Q phát hiện máu từ trong miệng chảy ra và thấy có lưỡi dao dính vào nách trái thì hô lên và được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tại kết luận giám định số 608/KLTTCT-TTGĐYKPYBT, ngày 26/7/2024 của Trung tâm giám định Y khoa – pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận thương tích của Phạm Vương Q:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương vùng đường nách trước bên trái thấu ngực, thủng phổi trái, tràn dịch màng phổi trái đã được phẫu thuật điều trị hiện dày nhẹ màng phổi trái, chức năng hô hấp trong giới hạn bình thường, vết thương vùng đường nách trước bên trái liền sẹo kích thước: (4,5 x 0,8)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 10% + 3% + 2%.
- Vết thương mặt trên trong cánh tay trái đã được điều trị hiện để sẹo kích thước: (01 x 0,7) cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
- Vùng sườn trái (cung trước xương sườn VII – VIII ngực trái) có 02 vết sẹo: Vết 1 kích thước (2 x 0,2)cm; Vết 2 kích thước: (2 x 0,7)cm. Các tổn thương này không được ghi nhận tại giấy chứng nhận thương tích số 53/CNTT – BVPN ngày 12/6/2024 của Bệnh viện Đ nên không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Vùng lưng trái có vết sẹo kích thước: (2,2 x 0,3)cm. Tổn thương này không được ghi nhận tại giấy chứng nhận số 53/CNTT – BVPN ngày 12/6/2024 của Bệnh viện Đ nên không tính tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Vùng sườn phải có vết sẹo kích thước: (2,2 x 0,2)cm. Tổn thương này không được ghi nhận tại giấy chứng nhận số 53/CNTT – BVPN ngày 12/6/2024 của Bệnh viện Đ nên không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y thâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Phạm Quốc V tại thời điểm giám định là: 16 (Một sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Vết thương vùng đường nách trước bên trái và vết thương mặt trên trong cánh tay trái do vật sắt nhọn gây ra.
+ Vết thương vùng đường nách trước trái có chiều hường tác động từ trước ra sau; Vết thương mặt trên trong cánh tay trái có chiều hướng tác động theo tư thể cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Tại kết luận giám định số 605/KLTTCT-TTGĐYKPYBT, ngày 19/7/2024 của Trung tâm giám định Y khoa – pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Đức T:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương phần mềm vùng đỉnh đầu trái đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước: (4 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1% (một phần trăm).
- Chấn thương mắt phải, gò má phải đã được điều trị hiện không để lại dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y thâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Đức T tại thời điểm giám định là: 1 (Một phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Vết thương do vật tày gây ra.
+ Vết thương có chiều hướng tác động từ trên xuống.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 101/KL – HĐĐGTS ngày 17/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đ, tỉnh Bình Thuận kết luận:
01 xe mô tô biển số 67FE – 9001 bị hư hỏng 01 gương chiếu hậu phía trước bên phải, 01 gương chiếu hậu phía trước bên trái trị giá: 58.200 đồng (năm mươi tám ngàn hai trăm đồng).
Vật chứng thu giữ: 01 ống tuýp kim loại, hình trụ rỗng, kích thước dài 47cm, đường kính 02cm (ống tuýp tròn, rỗng); 01 cán dao màu vàng, chất liệu nhựa, kích thước chiều dài 10,5cm, rộng 02cm, trên thân có chữ KinWi; 01 lưỡi dao kim loại dài 12cm, rộng 1,8cm mũi nhọn.
Về dân sự: Phạm Vương Q không yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại Cáo trạng số 86/CT-VKS-HS ngày 13/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố và thừa nhận bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan.
Trong phần tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
Về điều luật: Đề nghị áp dụng điểm điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ theo quy định.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng bà Hoàng Thị Thanh N nhưng không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng người làm chứng bà N tại phiên tòa là phù hợp quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi và tội danh.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, Kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do có mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng xóm,
khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 21/5/2024, tại nhà Nguyễn Đức T ở thôn C, xã Đ, huyện Đ, Nguyễn Đức T dùng dao bằng kim loại đâm Phạm Vương Q hai cái vào vùng nách trước bên trái và cánh tay trái gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16% (Một sáu phần trăm).
Nguyễn Đức T là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng đã sử dụng 01 con dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Phạm Vương Q với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 16 % (Một sáu phần trăm) đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể là sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong quá trình chuẩn bị xét xử đã tự nguyện giao nộp số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để bồi thường cho người bị hại số. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của người bị hại, đồng thời người bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Số tiền trên được bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên lai thu tiền số 0001754, ngày 09/12/2024, nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
Tại phiên toà bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về vật chứng: 01 ống tuýp kim loại, hình trụ rỗng, kích thước dài 47cm, đường kính 02cm (ống tuýp tròn, rỗng); 01 cán dao màu vàng, chất liệu nhựa, kích thước chiều dài 10,5cm, rộng 02cm, trên thân có chữ KinWi; 01 lưỡi dao kim loại dài 12cm, rộng 1,8cm mũi nhọn là các vật chứng vụ án hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[7] Về hành vi của Phạm Vương Q đập phá làm hư hỏng xe mô tô biển số 67FE – 9001, theo kết luận định giá tài sản số 101/KL-HĐĐGTS ngày 17/10/2024 thiệt hại là 58.200 đồng (Năm mươi tám ngàn hai trăm đồng), Phạm Vương Q chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Về hành vi của Phạm Vương Q gây thương tích cho Nguyễn Đức T theo kết luận giám định số 605/KLTTCT-TTGĐYKPYBT, ngày 19/7/2024 là 1%, Nguyễn Đức T có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Vương Q, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[8] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Các điểm a, c khoản 1 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 293, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;
2. Tuyên bố: Nguyễn Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Phạt: Nguyễn Đức T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Đức T bồi thường cho bị hại Phạm Vương Q số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0001754, ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh để đảm bảo Thi hành án.
4. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 ống tuýp kim loại, hình trụ rỗng, kích thước dài 47cm, đường kính 02cm (ống tuýp tròn, rỗng); 01 cán dao màu vàng, chất liệu nhựa, kích thước chiều dài 10,5cm, rộng 02cm, trên thân có chữ KinWi; 01 lưỡi dao kim loại dài 12cm, rộng 1,8cm mũi nhọn.
(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/11/2024).
5. Về án phí: Buộc Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Trường |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Tuấn-Cố ý gây thương tích
