Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 82/2024/HSST

Ngày: 11/12/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Phú, ông Lê Đình Thọ.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/HSST, ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS, ngày 27/11/2024, đối với bị cáo:

1. Bị cáo: Trần Văn H, sinh ngày 17/6/1990. Nơi cư trú: Thôn C, xã K (xã V cũ), huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông: Trần Văn N, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị Â, sinh năm 1964; vợ: Pay Thị H1 (đã ly hôn); con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018; tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 22/06/2022, Trần Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị Tòa án nhân dân Thành phố Vinh xử phạt 18 tháng tù, tại bản án số 243/2022/HSST ngày 19/09/2022.

Nhân thân: Ngày 27/04/2011, Trần Văn H phạm tội : “Phá hủy Công trình quan trọng về An ninh Q” và “ Trốn khỏi nơi giam giữ”. Tòa án Quân sự Quân khu 4 xử phạt 03 năm tù Tại bản án số 5/2012/HSST, ngày 23/02/2012. Ngày 01/08/2021 Trần Văn H phạm tội: “ Cố ý gây thương tích”. Bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, đình chỉ giải quyết theo quyết định số 75/2021/ST ngày 29/10/2021.

2

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà; Hoàng Thị Â, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau: Vào khoảng 13 giờ, ngày 25/06/2024 Trần Văn H đang ngồi ở khu vực quán nước gần cổng chợ T1, thuộc thôn M, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đức L, sinh năm 1992, trú tại thôn M, xã V, huyện T gọi điện H hỏi mua ma túy. H đồng ý và hẹn gặp ở cổng chợ Trung tâm thương mại để trao đổi mua bán ma túy. Một lúc sau, L đi ra gặp H thì H đưa cho L 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng (là ma túy ). L cầm lấy gói ma túy đó và đưa lại cho H 300.000 đồng rồi đi về. Sau khi bán cho L, Huỳnh gói ma túy còn lại cất giấu trong túi áo bên trái và tiếp tục ngồi chơi tại khu vực cổng chợ Trung tâm thương mại. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi H đang ngồi chơi tại đây thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trong túi áo bên trái của H 01 gói giấy nhỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy và một số vật chứng khác liên quan. Tổ công tác Công an đã tiến hành niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, tiến hành điều tra làm rõ xử lý. Trong quá trình điều tra, Trần Văn H khai nguồn gốc số ma tuý nói trên, như sau:

Vào khoảng 9 giờ ngày 25/06/2024, Trần Văn H thông qua các mối quan hệ xã hội H biết một người đàn ông tên A, trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An có bán ma túy (heroin) nên H đã gọi điện thoại cho A để hỏi mua ma túy với số tiền 500.000 đồng. Anh đồng ý và hẹn H đến nhà Anh để giao dịch mua bán ma túy. H điều khiển xe máy của H nhãn hiệu Honda, màu đen, biển kiểm soát 37-EA 049.03 đi từ nhà đến nhà người đàn ông tên A, trú tại huyện Đ, huyện Đ để mua ma túy. Khi H đi đến cổng nhà, gọi điện cho anh A đưa ma túy ra. Một lúc sau, Anh đi từ trong nhà ra cổng gặp Huỳnh lấy số tiền 500.000 đồng từ H đồng thời đưa lại cho H 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (là heroin). H cầm lấy gói ma túy đó rồi đi về nhà. Khi về nhà H có lấy ra một ít ma túy vừa mua được để sử dụng, rồi chia nhỏ số ma túy còn lại thành 02 phần và gói trong hai tờ giấy nhỏ với mục đích để bán kiếm lời.

3

Quá trình điều tra Trần Văn H khai nhận: Ngoài số ma túy thu giữ khi bắt quả tang và hành vi bán ma túy cho Nguyễn Đức L vào ngày 25/6/2024, Trần Văn H còn có hành vi bán ma túy cho 02 người khác cụ thể như sau:

Vào 19 giờ ngày 22/06/2024 tại khu vực bờ ao nhà của Trần Văn H, H đã bán 01 gói ma túy cho Trần Văn L1, sinh năm 1996, trú tại Thôn C, xã V, huyện T, với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số ma túy mua của H thì L1 đã sử dụng hết.

Khoảng đầu tháng 6 năm 2024 (không nhớ ngày cụ thể ), tại khu vực gần nhà thờ giáo X, thuộc thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An: Trần Văn H bán 01 gói ma túy (H) cho Trần Văn T, sinh năm 2002, trú tại Thôn T, xã V, huyện T, với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số ma túy mua của H thì T đã sử dụng hết.

Ngày 25/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành lập hội đồng mở niêm phong cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn H. Tại bản kết luận số 721/KL -KTHS(Đ2-MT) ngày 29/6/2024 của Phòng K- Công an tỉnh N kết luận :

“ - Mẫu chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn H gửi giám định là ma túy, loại Heroin có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2025 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn H có khối lượng 0,1g".

Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKS-TC ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Trần Văn H, về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt Trần Văn H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng; 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu. Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng tiền 03 lần bán ma tuý; trả lại cho bị cáo số tiền 810.000 đồng (trong tổng số tiền đã tạm giữ 1.710.000 đồng). Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, có số Imeil: 351250091628905; gắn thẻ sim số 0945666337, sim có số

4

seri 89840200010972576920, máy đã qua sử dụng. Trả lại cho bà Hoàng Thị Â: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu đen, biển kiểm soát 37-EA 049.03; có số khung RLHJA3935RY615321; số máy: JA70E0309519, xe đã qua sử dụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bày: Ngày 05/3/2024 bà có mua 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu đen, biển kiểm soát 37-EA - 049.03; có số khung RLHJA3935RY615321; số máy: JA70E0309519 để cùng sử dụng, ngày 25/6/2024 con trai bà là Trần Văn H dùng xe máy đi chơi và sau đó bán ma tuý thì bị bắt và tạm giữ; việc H dùng xe đi chơi và sau đó bán ma tuý bà không biết và không đồng ý; cho nên bà đề nghị được trả lại chiếc xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn H đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với các kết luận giám định.

Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 13 giờ ngày 25/06/2024 tại khu vực trước cổng Trung tâm thương mại, thuộc thôn M, xã V, huyện T, Trần Văn H đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Đức L (sinh năm 1992, trú tại thôn M, xã V, huyện T), một gói Heroin với giá 300.000 đồng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, tổ Công tác Công an huyện T phát hiện bắt quả tang Trần Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ 0,1g heroin để sử dụng và bán kiếm lời.

5

Ngoài ra, vào khoảng 18 giờ ngày 22/6/2024 Trần Văn H đã có hành vi bán ma tuý cho Trần Văn L1 (sinh năm 1996, trú tại Thôn C, xã V, huyện T) ở gần nhà H, với giá 300.000 đồng. Vào một ngày đầu tháng 6/2024, H đã bán cho Trần Văn T (sinh năm 2002, trú tại Thôn T, xã V, huyện T) với giá 300.000 đồng, ở gần nhà thờ giáo xứ M, xã T, huyện T.

Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Trần Văn H, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như Viện kiểm sát truy tố là đúng.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương và xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần phạm tội và bị Toà án xét xử và tuyên phạt về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (tái phạm). Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung và cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang, bị cáo còn tự thú 02 hành vi mua bán trái phép ma tuý khác. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[4] Về vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ: 0,100 gam heroin; 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng; 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, có số Imeil: 351250091628905; gắn thẻ sim số 0945666337, sim có số seri 89840200010972576920, máy đã qua sử dụng; số tiền 300.000 đồng thu giữ ở ngăn giữa ví của Trần Văn H và số tiền 1.410.000 đồng được thu giữ trong ngăn ngoài cùng ví của H (là số tiền của H lao động mà có); 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu đen, biển kiểm soát 37-EA 049.03; có số khung RLHJA3935RY615321; số máy: JA70E0309519, xe đã qua sử dụng.

Xét thấy số ma tuý đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Đối với 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng; 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu, là vật chứng liên quan đến tội phạm, cần tịch thu tiêu huỷ.

6

Đối với số tiền 1.710.000 đồng thu giữ của bị cáo, thì cần tịch thu số tiền 900.000 đồng mà bị cáo đã bán ma tuý, để sung nộp ngân sách nhà nước; còn lại trả cho bị cáo.

Đối với chiếc điện thoại bị cáo đã dùng vào việc liên lạc bán ma tuý; thì thì cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 37-EA 049.03 của bà Hoàng Thị Â. Xét thấy ý kiến của bà Hoàng Thị Â là có căn cứ, bị cáo dùng xe máy để đi chơi và sau đó bán ma tuý, bà Â không biết, nên cần trả lại cho bà Hoàng Thị Â.

[5] Đối với người đàn ông tên A đã bán ma túy cho H vào ngày 25/06/2024 và những lần trước đó. Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT tiến hành ra Lệnh thu giữ thu tín điện tín đối với số điện thoại 0985.936.xxx ( Huỳnh trình bày là số điện thoại của A) và xác minh người đàn ông tên Anh ở xã Đ, huyện Đ (cho bị can Huỳnh nhận dạng ảnh), từ đó xác định người này tên là Phạm Thanh A, sinh năm 1977, trú tại xóm F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hiện nay Phạm Thanh A có mặt tại địa phương ( từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 9 năm 2024, Anh vắng mặt khỏi địa phương, không rõ đi đâu làm gì). Sau khi xác minh Phạm Thanh A có mặt tại địa phương, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành biện pháp điều tra: ghi lời khai, đối chất với Phạm Thanh A. Quá trình làm việc, Phạm Thanh A trình bày: không quen biết Trần Văn H và chưa gặp nhau lần nào và khẳng định không có hành vi bán ma túy cho H. Ngoài lời khai của H và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đủ căn cứ để xác định Phạm Thanh A là người bán ma túy cho H trong vụ án này, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Đức L, sinh năm 1992, trú tại Thôn M, xã V, huyện T; Trần Văn L1, sinh năm 1996, trú tại Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An; Trần Văn T, sinh năm 2002, trú tại Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An- là đối tượng mua ma túy của H để sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã triệu tập các đối tượng và làm rõ nội dung phù hợp với lời khai Trần Văn H. Quá trình làm việc và điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT tiến hành xét nghiệm ma túy đối với L, L1 và T (kết quả cả 3 đều dương tính với ma túy ). Hành vi mua ma túy về sử dụng đã vi phạm khoản 1, điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của chính phủ, Cơ quan CSĐT sẽ chuyển hồ sơ đến Công an huyện T đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng theo đúng quy định pháp luật là đúng.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

7

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Tuyên bố: Bị cáo; Trần Văn H, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo: Trần Văn H, 08 (tám) năm, 06 (sáu) tháng tù.
  3. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.

  4. Về vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng; 01 (một) vỏ phong bì thư niêm phong ban đầu.
    2. Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, có số Imeil: 351250091628905; gắn thẻ sim số 0945666337, sim có số seri 89840200010972576920.
    3. Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền: 900.000 đồng. Trả lại cho bị cáo Trần Văn H, số tiền 810.000 đồng; (trong tổng số tiền tiền 1.710.000 đồng đã tạm giữ).
    4. Trả lại cho bà Hoàng Thị Â: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu đen, biển kiểm soát 37-EA 049.03; có số khung RLHJA3935RY615321; số máy: JA70E0309519, xe đã qua sử dụng.
  5. ( Chi tiết các vật chứng có tại biên bản giao nhận tài sản ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Kho bạc Nhà nước huyện T; Phiếu nhập kho ngày 01/8/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Nghệ An. Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An ).

  6. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H, phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng ) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp, TAND tỉnh Nghệ An
  • - CA, VKS huyện Thanh Chương
  • - THA hình sự
  • - Chi cục THA dân sự TC
  • - UBND xã Kim Bảng
  • - Các đương sự
  • - Bị cáo, Lưu VP, lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

( đã ký)

Nguyễn Trọng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HSST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 82/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Huỳnh mua bán ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger