|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 10/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Long
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Ngư- Cán bộ nghỉ hưu.
- Bà Nguyễn Thị Chuyên- Cán bộ nghỉ hưu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Hồng Loan - Kiểm sát viên
Trong ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Y phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 21/11/2024 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXX-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Kim V, sinh ngày 23/8/1995, tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn
Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn K, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 9/12
Con ông: Triệu Nguyên S; Con bà: Triệu Thị L1974. Vợ: Chưa có.
Tiền án:
- - Tại Bản án số 24/2021/HS-ST ngày 02/6/2021 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt Triệu Kim V09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Tại Bản án số 07/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt Triệu Kim V15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 24 tháng tù. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/7/2023.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 06/12/2018 Tòa án nhân dân quận Long Biên Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P Có mặt tại phiên tòa.
1
- Bị hại: Anh Nguyễn Nguyễn Viết V1, sinh năm 1980
Địa chỉ: Xóm S, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên(Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Xóm Y, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Phạm Duy K.
Địa chỉ: Xóm Y, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 11/8/2024, Triệu Kim V2khiển xe mô tô BKS 97B2-017.63 trên Quốc lộ C hướng Bắc Kạn - Thái NguyênKhi đi đến xưởng sửa chữa máy xẻ gỗ của anh Nguyễn V5V1thuộc xóm S, xã Y trong xưởng không có ai trông coi. Văn dựng xe máy ở rìa đường rồi đi vào trong xưởng lấy 01 vật bằng sắt dạng cữ đa năng có khối lượng khoảng 14,3 kg; 01 vật bằng sắt dạng chữ U có khối lượng 3,9 kg; 01 vật bằng sắt hình chữ nhật có khối lượng là 15,15 kg; 02 vật bằng sắt hình vuông có khối lượng 12 kg. Văn cho tất cả lên xe mô tô rồi chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị N, xã Y chị L1với giá 200.000 đồng.
Khoảng 12 giờ ngày 12/8/2024 ,Văn mượn xe mô tô không nhớ biển kiểm soát của một người không quen biết rồi đến xưởng của anh Nguyễn V5V1trộm cắp 01 vật bằng sắt hình vuông nặng khoảng 58 kg sau đó đem bán cho Phạm D K2của hàng thu mua phế liệu của chị Nguyễn Thị L1 đồng.
Đối với anh Nguyễn Viết V2 phát hiện bị mất tài sản đã làm đơn trình báo Công an xã Y xác minh ban đầu và chuyển hồ sơ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 1233/KL-HĐ ĐGTS ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P
Tổng trị giá tài sản Triệu Kim V4cắp là 827.475 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu hồi được một số vật dụng trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Viết V3 Nguyễn V5V1và chị Nguyễn Thị L2 cầu V thường thiệt hại.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSPL ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Triệu Kim V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 của Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V6án từ 15 đến 18 tháng tù và bị cáo phải chịu án phí theo pháp luật.
Bị cáo không bào chữa, không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
2
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điểu tra Công an huyện PViện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2.}Về căn cứ buộc tội:
- - Tại phiên tòa bị cáo V thừa nhận: Sáng ngày 11/8/2024 bị cáo mượn xe máy của anh Nguyễn Văn S1 đi từ huyện C đi sang huyện Pđi qua xưởng sửa chữa máy cưa hiệu “Nguyễn Vị” thấy không có ai nên bị cáo nảy sinh ý định vào xưởng trộm cắp sắt đem bán lấy tiền tiêu sài. Bị cáo dừng xe ngoài rìa đường và đi vào xưởng lấy 01 vật bằng sắt dạng cữ đa năng có khối lượng khoảng 14,3 kg; 01 vật bằng sắt dạng chữ U có khối lượng 3,9 kg; 01 vật bằng sắt hình chữ nhật có khối lượng là 15,15 kg; 02 vật bằng sắt hình vuông có khối lượng 12 kg. Sau khi lấy được số tài sản trên bị cáo đem đến cửa hàng phế liệu của chị Nguyễn Thị L3 số tiền là 200.000 đồng. Trưa ngày 12/8/2024 bị cáo mượn xe của một người không quen biết đến xưởng sửa chữa máy cưa “Nguyễn Vị” trộm 01 vật bằng sắt hình vuông nặng khoảng 58kg đem bán được số tiền là 300.000 đồng.
- - Lời khai của bị hại (BL 66-69)
- - Lời khai người làm chứng. (BL70-73)
- - Lời khai của người liên quan.(BL 76-80)
- - Kết luận định giá tài sản tổng giá trị tài sản Vtrộm cắp là 827.475 đồng. Trong đó ngày 11/8/2024 là 334.478 đồng và ngày 12/8/2024 là 493.000 đồng.
Như vậy: Triệu Kim Vlà người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã có tiền án chưa được xóa án tích về tội chiếm đoạt tài sản lại có hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 11 và 12/8/2024 có trị giá 827.475 đồng. Hành vi đó đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” phạm vào điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170,171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”
Do vậy các bị cáo phải chịu hình phạt mà Điều luật quy định.
{3}. Xét tính chất hành vi:
3
Xét về tính chất hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà trong vụ án này là anh Nguyễn Viết V1. Hành vi đó còn làm mất trật tự an toàn xã hội.
{4}. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo phải chịu tình 01 tiết tăng nặng đó là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là nhân dân lao động nhưng không chịu tu dưỡng, mắc phải tệ nạn xã hội, nghiện ma túy, đã nhiều lần phạm tội nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo.
{5}. Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng thì cần xử bị cáo 15 đến 18 tháng tù như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân là phù hợp.
{7}.Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra anh V1đã nhận lại được một số tài sản, số tài sản còn thiếu anh V1không yêu cầu V7thường. Chị L1là người mua tài sản mà Vtrộm cắp, chị L1không biết và đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra, số tiền chị Llmua tài sản, chị L1không yêu cầu Vbồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
{8}. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định sung công quỹ nhà nước.
{9}. Về vật chứng: Số tài sản cơ quan điều tra thu giữ tại cửa hàng phế liệu của Nđiều tra đã trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Viết V1
Trong vụ án này Nguyễn Văn Slcó xe mô tô BKS 97 B2- 017.63 mà Văn mượn của anh S1 để làm phương tiện đi trộm cắp ngày 11/8/2024, khi cho Văn mượn anh S1 không biết Vđi trộm cắp nên không có cơ sở xử lý. Đối với Phạm D K1người mua tài sản do Vtrộm cắp nhưng khi mua bán Kkhông biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý.
Vì các lẽ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Triệu Kim V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS, Điều 106; 329; 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4
- Xử phạt bị cáo Triệu Kim V 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày 26/9/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Kim V8chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Đức Long |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
6
7
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Kim V
