Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN C

THÀNH PHỐ GIA NGHĨA

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Đông và bà H’Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quốc Chương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan H - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1997, tại tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và con bà Nguyễn Thị D; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2024; đang tạm giam; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện A, Thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình Đ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/8/2024, khi đang ở nhà tại tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, do muốn sử dụng ma túy nên Nguyễn Ngọc M gọi điện thoại liên hệ với đối tượng tên H1 (Không rõ nhân thân) hỏi mua 300.000đ ma túy đá để sử dụng thì H1 đồng ý và nói M chuyển tiền mua ma túy vào số tài khoản ngân hàng M1 số [...] mang tên Trần Thị T1. Sau đó M sử dụng tài khoản ngân hàng V số 9965556122 của M chuyển khoản số tiền 250.000đ vào số tài khoản do H1 cung cấp, do trước đó H1 mượn tiền M còn nợ 50.000đ nên Mạnh trừ luôn số tiền nợ này vào tiền mua ma túy.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, H1 gọi điện thoại cho M chỉ chỗ H1 cất dấu ma túy tại chân bảng hiệu taxi Việt Đức ở khu vực cầu Đ, thuộc tổ dân phố H, phường N, thành phố G. Lúc này M mượn xe ô tô hiệu Mazda màu đỏ, BKS 15A-806.18 của anh Nguyễn Văn T (là chủ nơi làm việc của M) để điều khiển đi lấy ma túy. Trên đường đi, M rủ bạn là anh Nguyễn Đình Đ (sinh năm 2000, trú tại: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G) đi chơi cùng thì Đ đồng ý, nên M điều khiển xe ô tô chở Đ đến cầu Đ. Đến nơi, Đ ngồi trên xe sử dụng điện thoại, còn M một mình xuống xe tìm lấy ma túy, được H1 đựng trong 01 túi zipper chỉ đỏ và cuộn trong chiếc khẩu trang màu hồng. M lấy ma túy bỏ vào túi quần phải đang mặc rồi lên xe ô tô điều khiển đi tìm địa điểm sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực cây xăng thuộc tổ dân phố H, phường N, thành phố G thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G tuần tra kiểm soát, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật vụ án.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với M và Đ vào ngày 10/8/2024 thể hiện cả hai đều dương tính với ma túy loại MET (Methamphetamine). M khai vào đầu tháng 8/2024, M liên hệ mua ma túy của H1 và đã sử dụng một mình hết. Đ khai vào ngày 09/8/2024, Đ có hành vi sử dụng ma túy một mình tại nhà riêng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 túi zipper sọc chỉ đỏ, kích thước (04x07)cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng.

- 01 khẩu trang màu hồng, trên khẩu trang có ghi chữ "6A Nami pro mask".

- 01 xe ô tô hiệu Mazda màu đỏ, BKS 15A-086.18.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám, số IMEI 1: 350069702052656, số IMEI 2: 350069701881519, gắn sim số 0965 556 122.

Tại Kết luận giám định số 369/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong túi zipper sọc chỉ đỏ gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2016 gam.

Hoàn lại sau giám định 0,1743 gam Methamphetamine được đựng trong túi zipper sọc chỉ đỏ, được niêm phong trong bì thư ký hiệu 369/KL-KTHS và ghi mẫu hoàn trả.

Cáo trạng số 76/CT-VKS-GN ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông truy tố Nguyễn Ngọc M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy đựng trong túi zipper hoàn trả sau giám định và chiếc khẩu trang do là vật cấm tàng trữ, lưu hành và công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng; Trả lại cho bị cáo M chiếc điện thoại Iphone 15 Promax là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc M do không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội; Chấp nhận ngày 29/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 902/QĐ-ĐCSKT-MT, trả lại xe ô tô Mazda BKS 15A-086.18 cho anh Nguyễn Văn T là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Ngọc M không bào chữa gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10/8/2024, tại tổ dân phố H, phường N, thành phố G, Nguyễn Ngọc M đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,2016 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) ... Methamphetamine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, phòng ngừa bị cáo phạm tội mới.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải. Vì vậy có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Việc xử lý vật chứng:

- Đối với khối lượng ma túy đựng trong túi zipper hoàn trả sau giám định và chiếc khẩu trang do là vật cấm tàng trữ, lưu hành và công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại Iphone 15 Promax là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc M do không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

- Ngày 29/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 902/QĐ-ĐCSKT-MT, trả lại xe ô tô Mazda BKS 15A-086.18 cho anh Nguyễn Văn T là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ chấp nhận.

[8] Đối với đối tượng H1 bán ma túy cho M, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với tài khoản Ngân hàng M1 số [...] mà bị cáo M đã chuyển 250.000đ tiền mua ma túy cho đối tượng H1, qua tra cứu mang tên Trần Thị T1 (sinh năm 2001, trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông). Chị T1 khai bị mất thẻ căn cước công dân vào đầu năm 2024 cho đến tháng 6/2024 mới làm lại căn cước công dân mới, chị T1 không biết và không quản lý, sử dụng số tài khoản ngân hàng trên, do đó không có cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Đình Đ đi cùng M đến địa điểm lấy ma túy, tuy nhiên Đ không biết, không góp tiền mua ma túy cùng M nên không đề cập xử lý. Đối với hành vi Đ sử dụng ma túy vào ngày 09/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố G xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với anh Nguyễn Văn T cho bị cáo M mượn xe ô tô Mazda BKS 15A-086.18, anh T không biết M sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên không đề cập xử lý.

[9] Xét các chứng cứ buộc tội, quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát, là có căn cứ cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 10/8/2024.

  2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    - Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy đựng trong túi zipper hoàn trả sau giám định và chiếc khẩu trang do là vật cấm tàng trữ, lưu hành và công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng.

    - Trả lại cho bị cáo M chiếc điện thoại Iphone 15 Promax là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc M do không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội.

    - Chấp nhận ngày 29/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 902/QĐ-ĐCSKT-MT, trả lại xe ô tô Mazda BKS 15A-086.18 cho anh Nguyễn Văn T là chủ sở hữu hợp pháp.

    (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024 giữa Công an thành phố G và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND thành phố Gia Nghĩa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa;
  • - Phòng HS, NV CA thành phố Gia Nghĩa;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Gia Nghĩa;
  • - CCTHADS thành phố Gia Nghĩa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger