Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

Tỉnh Thanh Hóa

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 11 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Quách Hà Vính
  2. Ông Mai Văn Đảm

Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS, ngày 31/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Thành Đ ; Sinh ngày: 07/7/2002; tại Xã T, T, Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 6/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Huy C - sinh năm: 1976; con bà: Bùi Thị T - sinh năm: 1977; Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình có 3 chị em. Tiền án: Ngày 21/02/2023 bị Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi". Chấp hành xong bản án ngày 12/11/2023; Tiền sự: không.

- Nhân thân: Ngày 28/01/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” và “Hủy hoại tài sản”. Bản án này bị cáo chưa chấp hành.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 27/6/2024 sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam kể từ ngày 03/7/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Quách Tuấn H; Sinh ngày: 12/02/1984; tại xã T, huyện T, Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 03/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quách Công S - Đã chết; Con bà: Nguyễn Thị C1 - Đã chết; Có vợ: Bùi Thị H1; Bị cáo có 03 con nhỏ, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 27/6/2024 sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam kể từ ngày 03/7/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, Thanh Hóa; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Trần Mạnh H2, sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 27/6/2024, Công an huyện T tiến hành tuyên truyền pháp luật về Ma túy với đối tượng có tiền án là Trần Mạnh H2, sinh năm 1992, trú tại thôn Q, xã T, huyện T. Tại buổi làm việc, Trần Mạnh H2 đã khai nhận với tổ công tác về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình cùng ngày và tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, kích thước khoảng (01 x 02)cm, bên trong có bám dính hạt tinh thể màu trắng.

H2 khai nhận: khoảng 17 giờ ngày 27/6/2024 H2 cùng với Hoàng Văn T1, sinh năm 1993 trú tại thôn Q, xã T, huyện T, đang cùng nhau đi chơi thì có gặp Quách Tuấn H sinh năm 1984, trú tại thôn H, xã T, huyện T, ở cổng nhà của Quách Tuấn H. Gặp nhau H2 đi vào sân nói chuyện và hỏi mua ma túy của H, còn Hoàng Văn T1 đứng đợi ở cổng, quan sát thấy H và H2 trao đổi với nhau. Qua trao đổi H2 mua 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá được đựng trong 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng. Sau khi mua được ma tuý của H thì H2 quay về nhà của mình, còn Hoàng Văn T1 cũng trở về nhà của T1. Sau đó H2 đã sử dụng hết số ma túy mà H2 mua được của H bằng hình thức đốt ma túy nóng chảy thành khói rồi dùng ống hút nhựa hút lấy khói thông qua đường miệng, sau đó Hoàng vứt dụng cụ sử dụng ma túy đi rồi cất vỏ ống hút nhựa bên trong bám dính các hạt tinh thể ma túy vào trong người. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi bị Công an huyện T gọi lên để tuyên truyền pháp luật, H2 đã thành khẩn khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy như đã nêu ở trên và giao nộp chiếc ống hút dùng để đựng ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiếp nhận nội dung vụ việc, tiến hành điều tra, xác minh mở rộng vụ án.

Làm việc với Cơ quan CSĐT Hoàng Văn T1 khai báo: vào khoảng 17 giờ ngày 27/6/2024 T1 đi cùng với Trần Mạnh H2 và chứng kiến quá trình Trần Mạnh H2 mua ma tuý của Quách Tuấn H. Sau khi mua được mua túy, H2 đã về nhà của H2, T1 cũng về nhà của mình và không biết H2 làm gì.

Từ thông tin do Trần Mạnh H2 khai nhận, Cơ quan CSĐT đã tiến hành giữ người khẩn cấp và khám xét chỗ ở đối với Quách Tuấn H. Tại nhà của Quách Tuấn H thu giữ: 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 chiếc kéo; 28 ống hút nhựa chiều dài khoảng 03cm, gắn kín 1 đầu; 02 ống sắt hình trụ chiều dài khoảng 7cm; 01 nắp nhựa hình tròn, màu đen gắn ống hút nhựa màu đỏ dài khoảng 14cm; 01 gói nilon màu trắng kích thước (4,5 x 4,5)cm chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 ống thủy tinh dạng cóng, 1 đầu tròn, dài khoảng 9,5cm bám dính chất bột màu trắng.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Quách Tuấn H thừa nhận việc bán ma túy cho H2 như H2 đã khai báo và khai nhận gói ma tuý có để bán cho Trần Mạnh H2 vào chiều ngày 27/6/2024 và gói ma tuý thu giữ trong quá trình khám xét là của Bùi Thành Đ, sinh năm 2002 trú tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đưa cho Quách Tuấn H vào đêm ngày 26/6/2024, mục đích chia nhỏ gói ma túy ra để bán cho người nghiện nhằm kiếm lời, khi bán hết số ma túy trên, số tiền thu được sẽ chia đôi cho cả Đ và H. Sau khi nhận số ma túy do Đ đưa, H đã lấy một ít ma túy để sử dụng tại gian bếp của gia đình H bằng hình thức hút, rồi H và Đ cùng xem bóng đá đến rạng sáng ngày 27/6/2024 thì Đ về nhà Đ, còn H vẫn ở nhà của mình. Đến chiều ngày 27/6/2024, khi Trần Mạnh H2 đến hỏi mua ma túy, H đã lấy 01 ống hút đựng ma túy trong người ra bán cho H2 lấy 500.000đ như đã nêu ở trên.

Đến 22 giờ 40 phút ngày 27/6/2024, Bùi Thành Đ đến Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện T, Đ khai nhận như sau: Do nhận thức bán ma tuý lợi nhuận cao và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 20 giờ ngày 26/6/2024, Đ đã bắt xe từ thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ra khu vực gần chùa B tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình để mua ma tuý. Tại đây, Đ đi xung quanh khu vực chùa và gặp một người đàn ông lạ mặt có biểu hiện là người sử dụng ma tuý, Đ hỏi mua của người này 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền ma tuý và được người này đưa cho một túi nilon màu trắng có kích thước khoảng (4,5x4,5)cm bên trong có chứa ma tuý đá. Sau khi mua được ma túy, Đ bắt xe về nhà Quách Tuấn H để xem bóng đá. Tại đây, Đ đưa gói ma tuý vừa mua được cho H và nói H bán số ma túy cho người nghiện, số tiền bán ma tuý sẽ chia đôi. Đ cùng H tiếp tục ngồi xem bóng đá, đến khoảng 05 giờ ngày 27/6/2024 thì trở về nhà mình. Đến ngày 27/6/2024, khi nhận được giấy triệu tập làm việc của Công an huyện T nên Đ đã đến Cơ quan CSĐT công an huyện T đầu thú khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Cơ quan CSĐT công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Thành Đ nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì khác.

Tại bản kết luận số: 2468/KL - KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với đồ vật thu giữ trong vụ án kết luận như sau:

  • + Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong đoạn ống nhựa, màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính;
  • + Các hạt tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng là 1,399 (một phẩy ba chín chín gam) loại Methamphetamine;
  • + Chất bột màu trắng bám dính trong ống thuỷ tinh dạng cóng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất ma tuý bám dính. (BL: 84)

Tại bản kết luận số: 2529/KL – KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • + 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) có số seri: XN 18406770 gửi giám định là tiền thật. (BL:88)

Đối với người đã bán ma túy cho Bùi Thành Đ vào ngày 26/6/2024, do bị cáo khai do lần đầu mua ma túy của người này, vào ban đêm, không có ánh sáng, bị cáo không nhìn rõ mặt của người này, nên không xác định được tên, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.

Đối với Trần Mạnh H2 là người mua ma túy của Quách Tuấn H vào ngày 27/6/2024 để sử dụng và đã sử dụng hết, ngày 22/7/2024 Công an huyện T đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0059613/QĐ-XPHC đối với Trần Mạnh H2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy".

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quách Tuấn H vào ngày 13/7/2024, ngày 22/7/2024 Công an huyện T đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Quyết định số 0059617/QĐ đối với Quách Tuấn H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với Hoàng Văn T1 là người chứng kiến quá trình giao dịch mua bán của Quách Tuấn H và Trần Mạnh H2. Bản thân Hoàng Văn T1 không góp tiền với Trần Mạnh H2 mua ma túy của Quách Tuấn H, không sử dụng chung ma túy với Trần Mạnh H2 kết quả test ma túy xác định Hoàng Văn T1 âm tính với ma túy, nên không có căn cứ xử lý đối với Hoàng Văn T1.

Kết quả xác minh điều kiện kinh tế, thu nhập của bị cáo Quách Tuấn H và Bùi Thành Đ xác định hiện tại các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản chung, tài sản riêng.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • - 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L, Phạm Thanh H3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T bên trong phong bì chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 (hai) phong bì và 1,318g (một phẩy ba một tám gam) chất ma túy methamphetamine của gói nilon màu trắng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cóng.
  • - 01 phong bì do Công an xã T, huyện T phát hành, dán kín, niêm phong bằng các chữ ký, chữ viết Lê Văn L1, Phạm Thanh H3, Bùi Văn T2, Bùi Văn T3, Quách Tuấn H, có đóng các hình dấu của UBND xã T, T, Thanh Hóa bên trong chứa 01 bật lửa ga màu xanh; 01 chiếc kéo; 28 ống hút nhựa chiều dài khoảng 03cm, gắn kín 1 đầu; 02 ống sắt hình trụ chiều dài khoảng 7cm; 01 nắp nhựa hình tròn, màu đen gắn ống hút nhựa màu đỏ dài khoảng 14cm.
  • - 01 phong bì trắng do Phòng K, Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết Lê Thị Bích N, Phạm Thanh H3 và có đóng 05 (năm) hình dấu tròn, màu đỏ, của Phòng K Công an tỉnh T bên trong chứa 01 tờ tiền mệnh giá 500.000₫.

Các vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

* Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSTT ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo Bùi Thành Đ, Quách Tuấn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

* Phần tranh tụng tại phiên tòa:

- Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 BLHS; xử phạt Bùi Thành Đ từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 27/6/2024). Đề nghị áp dụng khoản 3 điều 103, Điều 104, Điểm b Khoản 1 Điều 55, Điều 56 BLHS để tổng hợp bản án cải tạo không giam giữ của Bản án số 15/2019/HSST ngày 28//01/2019 của TAND Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS; xử phạt Quách Tuấn H từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 27/6/2024).

Kết quả xác minh về tài sản thu nhập, xác định hiện tại các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS):

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định bao gồm:

  • - 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L, Phạm Thanh H3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T bên trong phong bì chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 (hai) phong bì và 1,318g (một phẩy ba một tám gam) chất ma túy methamphetamine của gói nilon màu trắng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cóng.
  • - 01 phong bì do Công an xã T, huyện T phát hành, dán kín, niêm phong bằng các chữ ký, chữ viết Lê Văn L1, Phạm Thanh H3, Bùi Văn T2, Bùi Văn T3, Quách Tuấn H, có đóng các hình dấu của UBND xã T, T, Thanh Hóa bên trong chứa 01 bật lửa ga màu xanh; 01 chiếc kéo; 28 ống hút nhựa chiều dài khoảng 03cm, gắn kín 1 đầu; 02 ống sắt hình trụ chiều dài khoảng 7cm; 01 nắp nhựa hình tròn, màu đen gắn ống hút nhựa màu đỏ dài khoảng 14cm.

Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với 500.000đ tiền Quách Tuấn H đã thu được khi bán ma túy cho Trần Mạnh H2 được đựng trong 01 phong bì trắng do Phòng K, Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết Lê Thị Bích N, Phạm Thanh H3 và có đóng 05 (năm) hình dấu tròn, màu đỏ, của Phòng K Công an tỉnh T.

Phần tranh tụng tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận tội danh như bản cáo trạng mô tả, thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố. Đối với bị cáo Đ thừa nhận 12 tháng cải tạo không giam giữ của Bản án số 15/2019/HSST ngày 28//01/2019 của TAND Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng bị cáo chưa chấp hành vì sau khi xét xử bị cáo đi làm xa, không có mặt tại nơi đăng ký tạm trú, tạm vắng, cũng không có mặt tại địa phương, bị cáo thống nhất như cáo trạng truy tố về phần tổng hợp hình phạt của hai bản án.

Phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luật giám định, vật chứng đã thu giữ và tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Xuất phát từ động cơ vụ lợi và nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân, nên vào tối ngày 26/6/2024, Bùi Thành Đ đã thực hiện hành vi mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 3.000.000đ từ một người đàn ông lạ mặt ở khu vực chùa B, tỉnh Ninh Bình mang về nhà ở của Quách Tuấn H, đưa cho H nhằm mục đích chia nhỏ ra để Quách Tuấn H bán cho người nghiện để cùng nhau kiếm lời. Đến 18 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, Quách Tuấn H đã bán 01 ống hút nhựa chứa ma túy loại Methamphetamine cho Trần Mạnh H2 lấy 500.000đ, số ma túy còn lại có khối lượng 1.399g H cất giấu để có người nghiện hỏi mua sẽ tiếp tục bán. Đến 20 giờ 00 ngày 27/6/2024 Công an huyện T đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Quách Tuấn H thu giữ toàn bộ số ma túy trên, sau giám định là Methamphetamine có khối lượng 1,399 gam. Đến 22 giờ 40 cùng ngày, Bùi Thành Đ đã đến Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án hình sự Mua bán trái phép chất ma túy có tính chất nghiêm trọng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, Bùi Thành Đ là người nảy sinh ý định và trực tiếp đi mua ma túy về đưa cho H để H bán lẻ cho những người mua nên có vai trò thứ nhất trong vụ án, Quách Tuấn H là người thực hành tích cực nên có vai trò thứ hai trong vụ án nên trách nhiệm hình sự và hình phạt của Đ cao hơn bị cáo H là phù hợp.

[4] Về tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, mà còn là nguyên nhân điều kiện dẫn đến các vi phạm, tội phạm khác trong xã hội, làm ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ sức răn đe và giáo dục đối với các bị cáo.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quách Tuấn H phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Bùi Thành Đ phải chịu tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, Bùi Thành Đ được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “đầu thú”, quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên khi lượng hình HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo một phần hình phạt. Lần phạm tội này xác định bị cáo Bùi Thành Đ chưa chấp hành Bản án số 15/2019/HSST ngày 28//01/2019 của TAND Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng với hình phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ vì vậy cần áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 55, Điều 56 BLHS để quy đổi 03 ngày cải tạo không giam giữ bằng một ngày giam giữ và tổng hợp với hình phạt của bản án này làm phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xác minh về điều kiện tài sản xác định các bị cáo hiện không có tài sản và thu nhập đáng kể gì. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

[7] Đối với người đã bán ma túy cho Bùi Thành Đ vào ngày 26/6/2024, do bị cáo khai do lần đầu mua ma túy của người này, vào ban đêm, không có ánh sáng, bị cáo không nhìn rõ mặt của người này, nên không xác định được tên, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án là đúng quy định.

[8] Đối với Trần Mạnh H2 là người mua ma túy của Quách Tuấn H vào ngày 27/6/2024 để sử dụng và đã sử dụng hết, ngày 22/7/2024 Công an huyện T đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0059613/QĐ-XPHC đối với Trần Mạnh H2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy" là đúng quy định.

[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Quách Tuấn H vào ngày 13/7/2024, ngày 22/7/2024 Công an huyện T đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Quyết định số 0059617/QĐ đối với Quách Tuấn H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.

[10] Đối với Hoàng Văn T1 là người chứng kiến quá trình giao dịch mua bán của Quách Tuấn H và Trần Mạnh H2. Bản thân Hoàng Văn T1 không góp tiền với Trần Mạnh H2 mua ma túy của Quách Tuấn H, không sử dụng chung ma túy với Trần Mạnh H2 kết quả test ma túy xác định Hoàng Văn T1 âm tính với ma túy, nên không có căn cứ xử lý đối với Hoàng Văn T1 là đúng quy định của pháp luật.

[11] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

  • - Đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L, Phạm Thanh H3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T bên trong phong bì chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 (hai) phong bì và 1,318g (một phẩy ba một tám gam) chất ma túy methamphetamine của gói nilon màu trắng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cóng là chất cấm lưu hành và những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 phong bì do Công an xã T, huyện T phát hành, dán kín, niêm phong bằng các chữ ký, chữ viết Lê Văn L1, Phạm Thanh H3, Bùi Văn T2, Bùi Văn T3, Quách Tuấn H, có đóng các hình dấu của UBND xã T, T, Thanh Hóa bên trong chứa 01 bật lửa ga màu xanh; 01 chiếc kéo; 28 ống hút nhựa chiều dài khoảng 03cm, gắn kín 1 đầu; 02 ống sắt hình trụ chiều dài khoảng 7cm; 01 nắp nhựa hình tròn, màu đen gắn ống hút nhựa màu đỏ dài khoảng 14cm là những đồ vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 phong bì trắng do Phòng K, Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết Lê Thị Bích N, Phạm Thanh H3 và có đóng 05 (năm) hình dấu tròn, màu đỏ, của Phòng K Công an tỉnh T bên trong chứa 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ là tiền bị cáo Quách Tuấn H thu được từ việc bán ma túy cho Trần Mạnh H2 nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Thành Đ, Quách Tuấn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điểm b Khoản 1 Điều 55, Điều 56, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Bùi Thành Đ.

- Xử phạt: Bị cáo Bùi Thành Đ 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 27/6/2024). Tổng hợp với 4 tháng tù của Bản án số 15/2019/HSST ngày 28/01/2019 của TAND Tp Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 52 (Năm mươi hai) tháng tù.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 BLHS đối với bị cáo Quách Tuấn H.

- Xử phạt: Bị cáo Quách Tuấn H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 27/6/2024).

- Áp dụng: khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

  • + Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L, Phạm Thanh H3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T bên trong phong bì chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của 02 (hai) phong bì và 1,318g (một phẩy ba một tám gam) chất ma túy methamphetamine của gói nilon màu trắng, 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, 01 (một) ống thuỷ tinh dạng cóng.
  • 01 phong bì do Công an xã T, huyện T phát hành, dán kín, niêm phong bằng các chữ ký, chữ viết Lê Văn L1, Phạm Thanh H3, Bùi Văn T2, Bùi Văn T3, Quách Tuấn H, có đóng các hình dấu của UBND xã T, T, Thanh Hóa bên trong chứa 01 bật lửa ga màu xanh; 01 chiếc kéo; 28 ống hút nhựa chiều dài khoảng 03cm, gắn kín 1 đầu; 02 ống sắt hình trụ chiều dài khoảng 7cm; 01 nắp nhựa hình tròn, màu đen gắn ống hút nhựa màu đỏ dài khoảng 14cm.
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với 500.000đ tiền Quách Tuấn H đã thu được khi bán ma túy cho Trần Mạnh H2 được đựng trong 01 phong bì trắng do Phòng K, Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết Lê Thị Bích N, Phạm Thanh H3 và có đóng 05 (năm) hình dấu tròn, màu đỏ, của Phòng K Công an tỉnh T.

Các vật chứng trên đang được lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2024.

+ Các Bị cáo Quách Tuấn H, Bùi Thành Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thạch Thành;
  • - Đội THAHS công an Thạch Thành;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Vĩnh Lộc
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thành Đạt + Đp mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger