|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 14 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Văn Vợi.
- Bà Hoàng Thị Thúy Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90a/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Ngô Xuân B. Sinh năm 1998 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Xuân T và bà Đậu Thị Huyền T1; Có vợ: Nguyễn Thị Hoài T2 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 7 năm 2024 đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Quang N. Sinh năm 1997 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang L và bà Nguyễn Thị C; có vợ: Nguyễn Thị Á và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 7 năm 2024 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Xuân B: Ông Lê Văn L1, Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 24/8/2007; Nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Viết T4, sinh năm 1998; Nơi cư trú: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trọng T5, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Chị Lô Thị N1, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Trần Doãn Lưu Q, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Số C, ngõ A, đường C, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 18/02/2007; nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1961; nơi cư trú: Khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Khối B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Anh Võ Minh P2, sinh năm 2002; Nơi cư trú: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của Nguyễn Đình V: Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1976 và bà Trần Thị T3, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Mai P: Ông Nguyễn Văn P1 và bà Nguyễn Thị H1; nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Xuân B sử dụng thuốc lá điện tử "R puff 1500" từ khoảng tháng 03/2024. Nguyễn Quang N sử dụng thuốc lá điện tử "R puff 1500" từ khoảng tháng 6/2024. Khi sử dụng loại này, Ngô Xuân B và Nguyễn Quang N thấy lâng lâng, gây hưng phấn, giảm đau đầu và biết rằng trong dạng thuốc lá điện tử này có chứa chất kích thích thần kinh mạnh. Ngô Xuân B tìm hiểu nguồn hàng trong các hội nhóm mua bán thuốc lá điện tử trên ứng dụng Facebook. B liên hệ với một người bán hàng không quen biết trên hội nhóm này và đặt mua 100 điếu thuốc lá điện tử "Rick V" với giá 200.000 đồng/điếu, tổng số tiền 20.000.000 đồng để sử dụng và bán lại cho những ai có nhu cầu mua. Sau khi nhận hàng, Ngô Xuân B cất giấu tại nhà mình ở khối G, thị trấn H, tỉnh Nghệ An. Sau đó, N tìm hiểu và biết được B bán loại thuốc lá này nên liên hệ với B để đặt mua. Hành vi của Ngô Xuân B và Nguyễn Quang N cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 27/6/2024, Nguyễn Quang N sử dụng điện thoại di động Iphone 14 promax, gắn thẻ sim số thuê bao 0886560504 gọi điện vào số thuê bao 0946306616, gắn trên điện thoại Iphone11 promax, màu vàng của Ngô Xuân B để đặt mua 20 điếu thuốc lá điện tử "Rick V" với giá 230.000 đồng/điếu. N sử dụng số tài khoản 9886560504 Ngân hàng V2 của mình chuyển tiền cho Ngô Xuân B. Nhận đủ tiền, B đặt ứng dụng vận chuyển hàng hóa gửi 20 điếu thuốc lá điện tử cho N. Nhận được hàng, N cất giấu tại nhà mình ở khối P, thị trấn N, huyện N, Nghệ An. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/07/2024, Nguyễn Đình V nhắn tin qua ứng dụng messenger cho Nguyễn Quang N (tài khoản Facebook “Nhật Man”) hỏi mua 02 điếu thuốc lá điện tử có chứa chất ma túy thì N đồng ý. N giới thiệu cho V loại thuốc lá điện tử "Rick Vape puff 1500" khi sử dụng sẽ gây cảm giác hưng phấn nên V đồng ý mua với giá 650.000 đồng/điếu. Đến 10 giờ 45 phút cùng ngày, tại điểm chờ xe buýt Trung tâm thương mại chợ S, N đưa cho V 02 điếu thuốc lá điện tử nhãn hiệu "Rick Vape puff 1500", V kiểm tra đưa 1.300.000 đồng cho Nguyễn Quang N thì bị Công an huyện N phát hiện, thu giữ trong túi áo của Nguyễn Đình V 02 điếu thuốc lá điện tử "R puff 1500"; trên tay phải của Nguyễn Quang N số tiền 1.300.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào lúc 10 giờ 16 phút ngày 07/7/2024, Nguyễn Quang N gọi điện thoại cho Ngô Xuân B để hỏi mua 20 điếu thuốc lá điện tử "Rick Vape puff 1500" với giá mỗi điếu như lần thứ nhất, tổng số tiền 4.600.000 đồng. Nguyễn Quang N xin Ngô Xuân B bớt 100.000 đồng thì B đồng ý. Sau đó, Nguyễn Quang N truy cập vào ứng dụng Zalo tài khoản "Nhật Art" kết bạn với Ngô Xuân B tài khoản “Bảo Thao” nhắn tin trao đổi về việc chuyển tiền. Sau đó, Nguyễn Quang N sử dụng số tài khoản 9886560504 Ngân hàng V2 của mình chuyển khoản số tiền 4.500.000 đồng vào số tài khoản 888861998 Ngân hàng VIB của Ngô Xuân B. Sau khi nhận tiền, Ngô Xuân B lấy 20 điếu thuốc lá điện tử "Rick Vape puff 1500" bỏ trong hộp giấy cát tông, dán kín đi giao cho N. Ngô Xuân B nhờ Nguyễn Viết T4 chở đi. Nguyễn Viết T4 điều khiển xe ô tô Mazda 3, biển kiểm soát 37K- 273.10 chở Nguyễn Trọng T5, Lô Thị N1, Nguyễn Thị Mai P đến đón Ngô Xuân B tại nhà B. Sau khi lên xe ô tô, B ngồi ở ghế bên phải, phía trước và đặt hộp giấy cát tông đựng 20 điếu thuốc lá điện tử ở dưới chân ghế rồi nói với Nguyễn Viết T4 chở B đi đến thị trấn N, huyện N để gửi đồ. Đến 12 giờ cùng ngày, cả 05 người đến trung tâm thương mại S thuộc thị trấn N để chờ Nguyễn Quang N đến nhận hàng thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện, kiểm tra, thu giữ tại vị trí ngồi của Ngô Xuân B 01 hộp giấy cát tông, bên trong có 20 điếu thuốc lá điện tử "Rick Vape puff 1500".
Ngày 09/7/2024, nhận thấy hành vi mua bán trái phép chất ma túy dưới dạng thuốc lá điện tử là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Quang N và Ngô Xuân B đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định số: 5186/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của V3 Bộ C1 kết luận: “Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 02 điếu thuốc lá điện tử thu giữ của Nguyễn Quang N gửi tới giám định. Tổng khối lượng MDMB-4en-PINACA: 0,0004 gam”.
Tại Bản kết luận giám định số 5383/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của V3 Bộ C1 kết luận: “Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 20 điếu thuốc lá điện tử thu giữ của Ngô Xuân B gửi tới giám định. Tổng khối lượng MDMB-4en-PINACA: 0,004 gam”.
Bản cáo trạng số: 94/CT-VKSNĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Ngô Xuân B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Nguyễn Quang N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Ngô Xuân B và Nguyễn Quang N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, p khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Xuân B mức án từ 4 năm 6 tháng tù đến 4 năm 9 tháng tù.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang N mức án từ 2 năm 9 tháng đến 3 năm tù.
Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy:
Một bì thư đã được niêm phong, dán kín đúng quy định, số E (TT2), được niêm phong bởi chữ ký ghi họ và tên Đặng Đình P3, Đoàn Thị Lệ H2, trên mép có dán hình dấu của V3 Bộ C1, bên trong phong bì thư có: 18 (mười tám) điếu thuốc lá điện tử và vỏ bao niêm phong.
Một bì thư đã được niêm phong, dán kín đúng quy định, số E (TT2), được niêm phong bởi chữ ký ghi họ và tên Đặng Đình P3, Đoàn Thị Lệ H2, trên mép có dán hình dấu của V3 Bộ C1, bên trong phong bì thư có: 02 (Hai) điếu thuốc lá điện tử và vỏ bao niêm phong.
Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao 0946306616, số imei 353900105624310, mặt lưng phía sau bị vỡ, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu xám, gắn thẻ sim số thuê bao 0886560504, số imei 35055025436510, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra.
- Số tiền 1.300.000 đồng;
Truy thu và nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Ngô Xuân B số tiền 9.100.000 đồng thu lợi từ hành vi phạm tội.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quang N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo Ngô Xuân B được miễn án phí theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Xuân B và Nguyễn Quang N đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo B nói lời nói sau cùng: “Hoàn cảnh bị cáo mồ côi cha từ nhỏ, mẹ bỏ đi, bị cáo sống cùng ông bà, do bệnh tật bị cáo mới tìm đến ma túy. Bị cáo biết hành vi của mình là sai phạm. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm có cơ hội về với gia đình, xã hội”.
Bị cáo N nói lời nói sau cùng: “Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Xuân B trình bày:
Về tội danh đồng ý với Cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Về hình phạt: Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Xuân B mức án thấp nhất như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 4 năm 6 tháng tù.
Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Ngô Xuân B do đối tượng khuyết tật nặng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp lệ.
[2] Việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Xuân B và Nguyễn Quang N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Tháng 6 và tháng 7/2024, tại Trung tâm thương mại S, thị trấn N, huyện N, Nghệ An, Ngô Xuân B và Nguyễn Quang N đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể:
Ngày 27/6/2024, Ngô Xuân B bán cho Nguyễn Quang N 20 điếu thuốc lá điện tử "Rick Vape puff 1500” với giá 4.600.000 đồng. Sau đó, ngày 07/7/2024, Nguyễn Quang N bán cho Nguyễn Đình V 02 điếu trong số 20 điếu N đã mua của Ngô Xuân B, 02 điếu này có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA (Tổng khối lượng ma túy 0,0004 gam) với giá 1.300.000 đồng.
Ngày 07/7/2024, Ngô Xuân B bán cho Nguyễn Quang N 20 điếu thuốc lá điện tử "Rick Vape puff 1500” có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA (Tổng khối lượng ma túy 0,004 gam) với giá 4.500.000 đồng.
Hành vi của Ngô Xuân B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Nguyễn Quang N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về công tác quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm. Do đó, cần lên một mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng và đấu tranh phòng ngừa chung. Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Bị cáo B là người thực hiện 2 hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho bị cáo N, còn bị cáo N có một hành vi bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Ngô Xuân B là người khuyết tật nặng, được hưởng trợ cấp hàng tháng (tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Bị cáo B và N đầu thú. Bị cáo có bà ngoại Trần Thị V1 được hưởng chính sách như thương binh thương tật hạng 4/4, có mẹ vợ Nguyễn Thị H3 được Bộ trưởng Bộ Y tặng Kỷ niệm chương Vì sức khỏe nhân dân. (tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Xét thấy đối với bị cáo Ngô Xuân B có hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đặc biệt là tình tiết giảm nhẹ “bị cáo bị khuyết tật nặng về trí tuệ” cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới khung của hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, bị cáo B là người khuyết tật nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Một bì thư đã được niêm phong, dán kín đúng quy định, số E (TT2), được niêm phong bởi chữ ký ghi họ và tên Đặng Đình P3, Đoàn Thị Lệ H2, trên mép có dán hình dấu của V3 Bộ C1, bên trong phong bì thư có: 18 (mười tám) điếu thuốc lá điện tử và vỏ bao niêm phong và một bì thư đã được niêm phong, dán kín đúng quy định, số E (TT2), được niêm phong bởi chữ ký ghi họ và tên Đặng Đình P3, Đoàn Thị Lệ H2, trên mép có dán hình dấu của V3 Bộ C1, bên trong phong bì thư có: 02 (Hai) điếu thuốc lá điện tử và vỏ bao niêm phong. Đây là vật chứng của vụ án, cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao 0946306616, số imei 353900105624310, mặt lưng phía sau bị vỡ, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu xám, gắn thẻ sim số thuê bao 0886560504, số imei 35055025436510, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra. Các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.
Số tiền 1.300.000 đồng hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện N, tỉnh Nghệ An, đây là số tiền do phạm tội mà có cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.
Số tiền 9.100.000 đồng mà bị cáo Ngô Xuân B thu lợi từ hành vi phạm tội cần truy thu và nộp ngân sách Nhà nước.
[6] Hành vi liên quan:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Ngô Xuân B vào tháng 3/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, nhưng không xác định được lý lịch cụ thể nên chưa có căn cứ để xử lý, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình V chưa đủ cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính là đúng quy định.
Đối với Nguyễn Viết T4, Nguyễn Trọng T5, Lô Thị N1, Nguyễn Thị Mai P đi cùng Ngô Xuân B lên Trung tâm thương mại S thuộc thị trấn N nhưng những người này không biết việc B đi giao ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Ngô Xuân B bị khuyết tật nặng về trí tuệ nên theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Ngô Xuân B và Nguyễn Quang N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, p khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Xuân B: 4 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 7 năm 2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang N: 2 năm 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 7 năm 2024.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu và tiêu hủy:
- - Một bì thư đã được niêm phong, dán kín đúng quy định, số E (TT2), được niêm phong bởi chữ ký ghi họ và tên Đặng Đình P3, Đoàn Thị Lệ H2, trên mép có dán hình dấu của V3 Bộ C1, bên trong phong bì thư có: 18 (mười tám) điếu thuốc lá điện tử và vỏ bao niêm phong.
- - Một bì thư đã được niêm phong, dán kín đúng quy định, số E (TT2), được niêm phong bởi chữ ký ghi họ và tên Đặng Đình P3, Đoàn Thị Lệ H2, trên mép có dán hình dấu của V3 Bộ C1, bên trong phong bì thư có: 02 (Hai) điếu thuốc lá điện tử và vỏ bao niêm phong.
- Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao 0946306616, số imei 353900105624310, mặt lưng phía sau bị vỡ, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu xám, gắn thẻ sim số thuê bao 0886560504, số imei 35055025436510, máy đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra.
- - Số tiền 1.300.000 đồng theo phiếu nhập kho và biên bản giao nhận tài sản ngày 13/8/2024 của Công an huyện N và Kho bạc Nhà nước huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Truy thu tại bị cáo Ngô Xuân B số tiền 9.100.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Quang N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định.
(Đặc điểm tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn ngày 11/11/2024).
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngô Xuân B.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Xuân Bảo và Dp - Mua bán TP chất ma tuý
