Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN V

TỈNH THÁI B

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày 27 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tiến Sang.

Ông Nguyễn Thanh Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái B tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài, Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 12/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với bị cáo:

Phan Đức B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/7/1996 tại Thái B; nơi thường trú: Thôn TB, xã TP, huyện V, tỉnh Thái B; nghề nghiệp: Công nhân tại Công ty TNHH Công nghệ phẩm J Thái B; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]XXX; con ông Phan Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Lưu Thị N; có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Từ tháng 02/2016 đến tháng 6/2018 thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Bộ tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; bị bắt tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái B. (có mặt)

- Bị hại: Anh Bùi Xuân B, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn OM3, xã TP, huyện V, tỉnh Thái B. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn Kh, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn ML2, xã VH, huyện V, tỉnh Thái B. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 08 phút ngày 02/4/2024, Phan Đức B chuyển số tiền 1.000.000 đồng thành nhiều lần vào ví MoMo được đăng ký bằng số điện thoại của B là 0393665XXX, rồi vào trang web "Cwin666.com”, sau đó đăng nhập tài khoản “Binhtp102” có mật khẩu đăng nhập “Binh996@@@”. Số tiền B nạp vào tài khoản đánh bạc được quy đổi tương đương với tiền ảo. Sau khi nạp tiền thành công, B vào “Trò chơi truyền thống”, chọn các phòng từ truyền thống 01 đến truyền thống 10, từ truyền thống C01 đến truyền thống C10 chơi đặt cược tiền dưới hình thức chơi “Cái - Con” là hình thức đặt cược thắng thua bằng tiền ảo trong game. Cách thức chơi: Đọ lá bài tú lơ khơ giữa B và nhà cái, khi chia bài, mỗi người được chia 02 lá bài, nếu 02 lá bài cộng lại dưới 05 điểm thì người chơi được chia thêm 01 lá bài để cộng điểm, 9 điểm là cao nhất, 0 điểm là thấp nhất; 10, J, Q, K tính là 0 điểm; có 03 cửa đặt gồm cửa cái, cửa hoà và cửa con, nếu đặt cửa cái tức là nếu số điểm của nhà cái lớn hơn số điểm của B thì B thắng và ngược lại, nếu đặt cửa hoà tức là số điểm của B và nhà cái bằng nhau thì B thắng, nếu thua thì B bị trừ hết số tiền đặt cược, nếu thắng thì B được cộng thêm số tiền bằng số tiền đã đặt cược trừ đi 5% phí. Số tiền 1.000.000 đồng, B đánh nhiều phiên liên tục, từ 00 giờ 08 phút đến 00 giờ 19 phút thì bị thua hết. Đến khoảng 05 giờ 34 phút cùng ngày, B tiếp tục nạp số tiền 500.000 đồng vào tài khoản để đánh bạc dưới hình thức “Cái - Con”, B đánh đến 05 giờ 46 phút thì bị thua hết.

Do cần tiền để đánh bạc tiếp nên Phan Đức B nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO, màu sơn đỏ đen của anh Bùi Xuân B mang đi bán lấy tiền chơi game. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, B gọi điện cho anh B đến đón B ở thôn Bùi Xá, xã Minh Lãng, huyện V. Anh B đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO, màu sơn đỏ đen, đến đón B. Đến nơi, B tiếp tục nhờ anh B chở B xuống nhà chị gái ở xã VH, huyện V (thực tế B không có chị gái). Trên đường đi, B nhắn tin cho anh Bùi Văn Kh (là người mua bán xe mô tô cũ) và biết anh Kh có nhà nên khi anh B chở B đến thôn Mỹ Lộc 2, xã VH, huyện V, B bảo anh B dừng xe vào quán nước của bà Trần Thị Lưu ngồi chờ B, B mượn xe mô tô vào nhà chị gái để lấy hoa cho mẹ, anh B đồng ý. B điều khiển xe mô tô vào nhà anh Kh, B nói với anh Kh là bạn em muốn bán xe mô tô này nhưng ngại không đi vào cùng, đồng thời, B gọi video

trên ứng dụng zalo cho anh B, mục đích để anh Kh nhìn thấy anh B đang ngồi ở quán nước đầu ngõ nhà anh Kh và tin B bán xe giúp anh B là thật. Do B không có giấy đăng ký xe mô tô nên anh Kh thỏa thuận đặt cọc trước cho B 4.000.000 đồng, B đồng ý. Anh Kh chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng Vietcombank số tài khoản 9972955266 của anh Kh đến tài khoản Ngân hàng Vietcombank số tài khoản 9393665996 của B số tiền 4.000.000 đồng. Tại nhà anh Kh ở thôn ML2, xã VH, huyện V, B nạp 4.000.000 đồng thành nhiều lần qua ví MoMo vào tài khoản “Binhtp102” trên trang “Cwin666.com” và chơi “Trò chơi truyền thống” dưới hình thức “Cái - Con”, kết thúc phiên chơi, B bị thua hết. Do hết tiền đánh bạc, B đi ra ngoài ngõ nhà anh Kh, gọi điện cho anh B nói chị gái B đi xe bị cảnh sát giao thông giữ vì không đội mũ bảo hiểm, nếu muốn chuộc xe phải về nhà lấy giấy tờ xe đến đưa Công an kiểm tra. Anh B nói không có ai chở về. B bảo bắt taxi về, B chuyển tiền taxi cho. Do tin B, anh B gọi taxi về nhà lấy giấy tờ xe. Khoảng 30 phút sau anh B quay lại quán nước, gọi điện thoại cho B ra lấy giấy tờ xe. B bảo với anh Kh, bạn em về lấy tờ xe đã mang đến nhưng không có tiền trả taxi, B đọc số tài khoản “0985823435” Ngân hàng MVB mang tên Bùi Xuân B, anh Kh chuyển 300.000 đồng cho anh B. Sau đó, B đi bộ ra quán nước lấy giấy tờ xe rồi cầm vào đưa anh Kh, anh Kh nhận được giấy tờ xe, kiểm tra các thông tin thấy đúng nên anh Kh và B thỏa thuận anh Kh mua xe môtô với giá 19.000.000 đồng, B bảo ghi giá 17.000.000 đồng trong giấy bán xe. Tại giấy “BÁN, CHO, TẶNG XE” thể hiện nội dung B bán xe mô tô biển kiểm soát 17B2 - 762.10 với giá 17.000.000 đồng và giao xe cùng các giấy tờ xe mang tên Bùi Xuân B cho anh Kh. B ký, ghi rõ họ tên vào mục “Người bán”. Sau khi trừ 4.000.000 đồng anh Kh đặt cọc xe, 300.000 đồng anh Kh chuyển cho anh B trả tiền taxi và 530.000 đồng B đã vay của anh Kh trước đó, anh Kh sử dụng tài khoản Ngân hàng Vietcombank của mình chuyển 02 lần tổng số tiền 14.170.000 đồng (lần thứ nhất là 12.170.000 đồng, lần thứ hai là 2.000.000 đồng) đến tài khoản Ngân hàng Vietcombank của B. Sau khi nhận được tiền, tại nhà anh Kh, B tiếp tục chuyển số tiền 12.170.000 đồng thành 03 lần (lần thứ 1 và lần thứ 2 mỗi lần 5.000.000 đồng, lần thứ 3 là 2.170.000 đồng) vào tài khoản “Binhtp102" trên trang “Cwin666.com” và chơi “Trò chơi truyền thống” dưới hình thức “Cái - Con”, sau nhiều phiên chơi liên tục, B bị thua hết tiền. B không chơi game nữa mà ra quán nước gặp và bảo anh B cứ về đi, trưa B lấy xe về cho. B và anh B đi taxi về. Khi về đến thôn Bùi Xá, xã Minh Lãng, huyện V, B xuống taxi và chuyển 250.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của anh B để trả tiền taxi. B đến

nhà anh Phạm Văn Th, sinh năm 1987, ở thôn Bùi Xá, xã Minh Lãng, huyện V chơi. Anh B đi taxi về công ty ở phường Tiền Phong, thành phố Thái Bình làm việc. Tại nhà anh Th, B tiếp tục nạp số tiền 1.900.000 đồng vào tài khoản “Binhtp102” trên trang “Cwin666.com” và chơi “Trò chơi truyền thống” dưới hình thức “Cái - Con”, B đánh cho đến khi thua hết tiền. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, anh B gọi điện hỏi B xe mô tô đâu, B trả lời đầu giờ chiều trả và bảo anh B chuyển trả B tiền thừa taxi. Anh B chuyển trả B qua tài khoản ngân hàng 250.000 đồng (tiền thừa của 02 lần). Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, B gọi điện cho anh B nói là thiếu tiền nộp phạt, hỏi vay 300.000 đồng để lấy xe, anh B chuyển qua tài khoản ngân hàng cho B 300.000 đồng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, B tiếp tục nhắn tin zalo cho anh B với nội dung chỗ B đã có 1.000.000 đồng, hỏi vay 3.000.000 đồng để nộp phạt nhưng anh B nhắn tin lại là không có tiền. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, B nhắn tin qua zalo hỏi vay 900.000 đồng nhưng anh B tiếp tục bảo không có tiền. Khoảng 17 giờ cùng ngày, anh B nhắn tin hỏi B đã lấy được xe chưa, B không trả lời. Đến 08 giờ ngày 04/4/2024, anh B đến Công an xã VH, huyện V tố giác hành vi của B.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Đức B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nếu trên. Ngoài ra, B còn khai nhận: Ngày 27/3/2024, tại huyện V, tỉnh Thái B, Phan Đức B nạp 4.000.000 đồng vào tài khoản “Binhtp102” trên trang “Cwin666.com” và chơi đánh bạc “Trò chơi truyền thống” dưới hình thức “Cái - Con”. Sau nhiều phiên chơi, B thắng được 1.800.000 đồng, B không chơi nữa và rút 5.800.000 đồng về tài khoản ngân hàng của B. Tổng số tiền B đánh bạc ngày 27/3/2024 là 5.800.000 đồng. Và ngày 01/4/2024, B có sử dụng ma túy đá tại nghĩa trang thôn TB, xã TP, huyện V.

Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐ ngày 26/4/2024, Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự UBND huyện V, kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 02/4/2024 trị giá 32.500.000 đồng (ba mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 04/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tạm giữ của anh Bùi Văn Kh 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO, màu sơn đỏ đen (đã qua sử dụng) cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, chủ xe Bùi Xuân B; tạm giữ của Phan Đức B 01 điện thoại di

động cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi, loại máy Mi A2, màu đen, gắn sim 0393665XXX (đã qua sử dụng).

Quá trình điều tra, anh Bùi Văn Kh yêu cầu Phan Đức B trả lại anh số tiền 18.470.000 đồng (gồm: 300.000 đồng anh Kh chuyển khoản cho anh B theo yêu cầu của B để trả tiền taxi và 18.170.000 đồng anh Kh chuyển khoản cho B để mua xe mô tô vào ngày 02/4/2024).

Cáo trạng số 79/CT-VKSVT ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái B truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái B để xét xử đối với Phan Đức B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phan Đức B khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng đã mô tả. Chấp nhận trả anh Bùi Văn Kh số tiền 18.470.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Đức B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo B 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, bị cáo B phải chấp hành 04 năm đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam. Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo B từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo B trả anh Kh số tiền 18.470.000 đồng. Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo B phải nộp lại số tiền 5.800.000 đồng (bị cáo thắng vào việc đánh bạc ngày 27/3/2024) để tịch thu sung ngân sách nhà nước; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi, loại máy Mi A2, màu đen, gắn sim 0393665XXX (đã qua sử dụng). Bị cáo B phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phan Đức B đồng ý với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Phan Đức B nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Phan Đức B khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với đơn trình báo và lời khai của bị hại anh Bùi Xuân B; giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 02/4/2024; biên bản làm việc về việc kiểm tra điện thoại kèm theo bản in tin nhắn trên Facebook từ điện thoại của anh Bùi Văn Kh và Phan Đức B; bản in giao diện trò chơi “Cái - Con”; tài khoản liên kết game với ví Momo và bản in giao dịch chuyển tiền trên điện thoại của B; biên bản làm việc xem xét tài khoản ví Momo của B kèm theo bản in; công văn trả lời của Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thái B, các giấy báo nợ/có và chứng từ giao dịch của B; lời khai của anh Bùi Văn Kh. Ngoài ra, còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian tháng 3/2024 và tháng 4/2024 trên địa bàn huyện V, tỉnh Thái B, Phan Đức B đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc, cụ thể:

3.1. Ngày 02/4/2024, do cần tiền đánh bạc trên mạng Internet, Phan Đức B đã đưa ra thông tin không đúng sự thật để anh Bùi Xuân B cho B mượn 01 xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO, màu sơn đỏ đen, trị giá 32.500.000 đồng. Sau đó, B đem bán xe mô tô trên cho anh Bùi Văn Kh lấy số tiền 19.000.000 đồng. Hành vi này của Phan Đức B đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

3.2. Trong ngày 27/3/2024 và ngày 02/4/2024, Phan Đức B sử dụng mạng Internet vào trang web "Cwin666.com” thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền ảo trong game dưới hình thức chơi “Cái - Con”. Trong đó: Ngày 27/3/2024, B sử dụng số tiền đánh bạc là 4.000.000 đồng, kết thúc phiên chơi B thắng được 1.800.000 đồng, tổng số tiền B sử dụng để đánh bạc là 5.800.000 đồng. Ngày 02/4/2024, B sử dụng tổng số tiền 19.570.000 đồng để đánh bạc, kết thúc các phiên chơi, B bị thua hết. Như vậy, tổng số tiền bị cáo B sử dụng để đánh bạc trong ngày 27/3/2024 và ngày 02/4/2024 được xác định là 25.370.000 đồng. Hành vi này của Phan Đức B đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4] Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

[5] Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tội “Đánh bạc”, quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

...;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

...;

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[6] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, thấy: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Phan Đức B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho chủ tài sản trong việc quản lý, sử dụng tài sản của mình. Hành vi đánh bạc của bị cáo cũng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng mà trực tiếp là xâm phạm đến nếp sống văn minh bởi đánh bạc là tệ nạn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có sức khỏe, có công việc ổn định nhưng bị cáo không tích cực tham gia lao động, để có tiền thỏa mãn những nhu cầu không chính đáng của bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm.

[7] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Phan Đức B hai lần thực hiện hành vi đánh bạc vào các ngày 27/3/2024 và 02/4/2024 nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tình tiết khác quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, thể hiện lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phan Đức B sử dụng mạng Internet thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo về tội “Đánh bạc” với số tiền 10.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và về các vấn đề khác:

10.1. Anh Bùi Văn Kh là người đã mua xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO của Phan Đức B. Quá trình điều tra xác định, khi bán xe, B nói bán hộ bạn, anh Kh không biết đó là xe do B phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có biện pháp xử lý đối

với anh Kh là đúng pháp luật. Xét đề nghị của anh Kh về việc yêu cầu bị cáo B trả lại anh số tiền 18.470.000 đồng là có căn cứ, bị cáo B cũng chấp nhận trả anh Kh số tiền trên, do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.

10.2. Số tiền Phan Đức B sử dụng để đánh bạc trong vụ án được xác định là 25.370.000 đồng (trong đó thắng được từ việc đánh bạc là 5.800.000 đồng và thua là 19.570.000 đồng), căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần buộc bị cáo B nộp lại để tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 5.800.000 đồng; còn số tiền đánh bạc bị thua là 19.570.000 đồng do trang web "Cwin666.com” thuộc quản lý của chính phủ Costa Rica, chưa được cấp phép hoạt động ở Việt Nam, máy chủ không được đặt tại Việt Nam, không xác định được chủ tài khoản nên không có căn cứ tịch thu ngân sách số tiền này.

10.3. Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi, loại máy Mi A2, màu đen, gắn sim 0393665XXX (đã qua sử dụng), Cơ quan CSĐT Công an huyện V thu giữ của bị cáo Phan Đức B. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử cần tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

10.4. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 17B2-762.XX, nhãn hiệu HONDA, số loại VARIO (đã qua sử dụng) cùng đăng ký xe, giấy chứng nhận bảo hiểm xe thu giữ trong vụ án là tài sản hợp pháp của anh Bùi Xuân B. Ngày 15/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định xử lý vật chứng số 557/QĐ-XLVC, trả lại xe mô tô cùng các giấy tờ xe cho anh B. Xét thấy, việc trả tài sản của cơ quan điều tra là có căn cứ, đúng chủ sở hữu, anh B đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì, Hội đồng xét xử không giải quyết.

10.5. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phan Đức B vào ngày 01/4/2024. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm số [...] ngày 04/4/2024, Bệnh viện Đa khoa huyện V xác định B dương tính với Methamphetamine (ma tuý đá). Ngày 31/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định số 63/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng đối với B là đúng pháp luật.

10.6. Đối với trang web "Cwin666.com”, tại công văn số 402/STTTT-TTr ngày 19/4/2024 Sở Thông tin và Truyền thông Thái B cung cấp là trang web thuộc quản lý của chính phủ Costa Rica, chưa được cấp phép hoạt động ở Việt Nam, máy chủ không được đặt tại Việt Nam nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

[11] Bị cáo Phan Đức B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Bị cáo Phan Đức B, bị hại anh Bùi Xuân B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn Kh có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Đức B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

2.1. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đức B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Đức B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, bị cáo Phan Đức B phải chấp hành hình phạt 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 05/4/2024).

2.2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phan Đức B số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, xử: Buộc bị cáo Phan Đức B phải trả anh Bùi Văn Kh số tiền 18.470.000 đồng (mười tám triệu bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng chẵn). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Buộc bị cáo Phan Đức B phải nộp lại số tiền 5.800.000 đồng (năm triệu tám trăm nghìn đồng) là số tiền bị cáo thắng từ việc đánh bạc để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu Xiaomi, loại máy Mi A2, màu đen, gắn sim 0393665XXX (đã qua sử dụng), cơ quan điều tra thu của bị cáo Phan Đức B (đã

chuyển Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái B ngày 16/9/2024).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Đức B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 924.000 đồng (sau khi làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Phan Đức B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024). Bị hại anh Bùi Xuân B, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn Kh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái B;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái B;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Thái B;
  • - Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Thái B;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái B;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Thái B;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thùy Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI B về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI B
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Đức Bình phạm tội "Lừa đảo CĐTS" và "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger