Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 82/2024/DS-ST.

Ngày: 24-9-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay có

cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hoàng Liên
  2. Bà Bùi Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay có cầm cố tài sản, mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S2 tiền có ngay

Đại diện theo pháp luật: Ông Kanokwatpaisal napat – Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ trụ sở: 128 nguyễn D, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S – Chức vụ: Nhân viên.

Địa chỉ liên lạc: B L, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

- Bị đơn: Ông Võ Thành V, sinh năm 1980

Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận.

Ông Nguyễn Văn S có mặt, ông Võ Thành V vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn S trình bày:

Công ty TNHH S3 nay là Công ty Cổ phần S2 có ngay (gọi tắt là Công ty) có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 7, ngày 27/3/2024 và có Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh N cấp giấy chứng nhận đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 14/4/2024. Công ty hoạt động nhiều lĩnh vực, trong đó có cầm cố tài sản.

Ngày 21/4/2020, ông Võ Thành V có ký hợp đồng cầm cố số PRM200401027NA20X với Công ty. Theo đó, ông V cầm cố xe máy Yamaha Exciter biển số 85B1-771.69 để vay số tiền là 26.000.000 đồng. Thời hạn cầm cố 12 tháng, số tiền cam kết thanh toán mỗi tháng là 2.872.014,22 đồng trả vào hàng tháng ngày 21; Lãi suất cầm cố là 1.1%/tháng. Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Phí quản lý hồ sơ cố định là 1.9%/ tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền.

Do nhu cầu đi lại, phục vụ công việc, ngày 21/4/2020, ông Võ Thành V đã ký kết với Công ty X mượn lại chiếc xe trên để phục vụ đi lại thời hạn 01 tháng. Theo đó, ông V phải thanh toán phí bảo dưỡng và hao mòn xe với số tiền 260.000 đồng/tháng. Tuy nhiên đến nay ông V vẫn chưa thực hiện trả lại xe cho Công ty theo thỏa thuận. Hiện nay Công ty chỉ còn giữ giấy chứng nhận đăng ký xe bản gốc của ông V.

Công ty đã giải ngân cho ông V số tiền là: 26.000.000 đồng vào ngày 21/4/2020. Ông V đã thanh toán số nợ gốc 1.832.014 đồng; Lãi 286.000 đồng; phí quản lý hồ sơ 494.000 đồng; phí mượn xe 260.000 đồng; phí quá hạn 985 đồng.

Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết:

  • Yêu cầu ông Võ Thành V phải giao trả lại chiếc xe hiệu Yamaha Exciter mang biển số 85B1-771.69, số khung: RLCUG1010KY239707, số máy: G3D4E1010753 đã cầm cố mà ông Vũ mượn lại của Công ty CP S2 Có Ngay, phí mượn xe 361.000 đồng/ tháng để hai bên thực hiện việc thanh lý hợp đồng cầm cố và bàn giao tài sản và giấy tờ liên quan theo quy định của pháp luật.
  • Trường hợp ông Võ Thành V không thể trả lại xe cầm cố thì phải có nghĩa vụ thanh toán cả gốc lẫn lãi tới thời điểm hiện tại thông qua hợp đồng cầm cố tài sản.

Tại phiên hòa giải ngày 06/8/2024, Công ty yêu cầu ông Võ Thành V phải trả các khoản tiền sau: Tiền gốc: 24.167.986 đồng. Tiền lãi trong hạn: 1.673.529 đồng. Tiền lãi quá hạn: 23.536.157 đồng; phí quản lý hồ sơ 2.890.641; phí mượn xe là 2.869.000 đồng. Tổng số tiền Công ty yêu cầu ông Võ Thành V thanh toán tạm tính đến ngày 06/8/2024 là 55.128.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đối với các loại phí, không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết đối với tài sản sản cầm cố, hiện Công ty đã cho ông Vũ M lại tài sản cầm cố; Tính đến ngày 24/9/2024, Công ty yêu cầu ông V phải thanh toán tiền gốc là 24.167.986 đồng. Tiền lãi trong hạn: 1.673.529 đồng. Tiền lãi quá hạn: 18.537.087 đồng. Tổng cộng: 44.378.602 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/9/2024), ông V còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi thanh toán xong nợ.

Sau khi ông V thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty S2 sẽ trả lại ông V bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 060145 do Phòng C công an tỉnh N cấp cho ông Võ Thành V ngày 03/03/2020 và thực hiện thủ tục xóa đăng ký tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Võ Thành V: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V nhưng ông V không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS). Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật là có cơ sở.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Công ty Cổ phần S2 Có Ngay yêu cầu bị đơn Võ Thành V thanh toán số tiền còn nợ, tiền lãi theo hợp đồng cầm cố tài sản và trả lại tài sản; Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản; hợp đồng mượn tài sản” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố D, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Xử lý về việc vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ cho ông V. Ông V không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự theo quy định của pháp luật nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án. Ông V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[1.3] Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu: Công ty Cổ phần S2 có ngay chỉ yêu cầu bị đơn Võ Thành V phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn; không buộc ông V phải giao trả lại chiếc xe hiệu Yamaha Exciter mang biển số 85B1-771.69; không buộc trả phí hao mòn tài sản 260.000 đồng/tháng và phí quản lý hồ sơ: 1.9%/tháng trên dư nợ thực tế. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng:

Ngày 21/4/2020, ông Võ Thành V và Công ty có ký hợp đồng cầm cố tài sản số PRM200401027NA20X. Thông qua Hợp đồng, Công ty cổ phần S2 Có Ngay đã giải ngân cho ông Vũ S1 tiền: 26.000.000 đồng và Công ty nhận bảo đảm khoản tiền vay đã giải ngân thông qua việc cầm cố xe hiệu Yamaha Exciter mang biển số 85B1-771.69, số khung: RLCUG1010KY239707, số máy: G3D4E1010753 do ông V đứng tên chủ sở hữu. Đồng thời, ông V có ký giấy mượn lại chiếc xe nêu trên và được phía Công ty chấp nhận.

Xét thấy, Hợp đồng cầm cố và mượn xe được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 309, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2] Về nội dung hợp đồng cầm cố và yêu cầu đòi nợ gốc:

Công ty Cổ phần S2 Có Ngay có đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ; tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định “Kinh doanh dịch vụ cầm đồ, gồm: Kinh doanh dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố”.

Điều 309 của Bộ luật Dân sự quy định “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây là gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”.

Công ty S2 và ông V giao kết hợp đồng cầm cố tài sản để nhận số tiền cầm cố: 26.000.000 đồng và lưu ý cho khách hàng cầm cố (kèm theo hợp đồng), thể hiện ông V là người cầm cố tài sản chiếc xe máy để vay tiền tại Công ty.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: mặc dù hình thức của hợp đồng số PRM200401027NA20X là hợp đồng cầm cố tài sản nhưng nội dung của hợp đồng là thỏa thuận về việc Công ty S2 cho ông V vay số tiền 26.000.000 đồng và việc ông V cầm cố chiếc xe Yamaha Exciter mang biển số 85B1-771.69 cho Công ty S2 thông qua hợp đồng này là phương thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nợ đã vay; Nội dung hợp đồng có thỏa thuận về mức lãi suất 1,1%/ tháng, phí chậm trả tương ứng 150% lãi suất quy định và các loại phí khác, các khoản thu này được tính theo mức %/tháng/dư nợ thực tế; cho thấy, công ty S2 đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để tính lãi, phí và phạt hợp đồng nhằm mục đích thu lãi từ việc cho vay và việc ông V cầm cố xe máy để nhận tiền và viết giấy mượn lại xe để dùng làm phương tiện đi lại thực chất là vay tiền có tính lãi. Vì vậy, có cơ sở xác định mục đích và nội dung hợp đồng được ký kết giữa các bên là: Hợp đồng vay có cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản.

Công ty S2 đã giải ngân đủ số tiền cho ông Võ Thành V theo Hợp đồng số PRM200401027NA20X ngày 21/4/2020. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông V chỉ thanh toán được một phần tiền cho nguyên đơn nên đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 và Điều 311 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Công ty khởi kiện yêu cầu ông Võ Thành V có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc 24.167.986 đồng là phù hợp nên chấp nhận.

[2.3] Về yêu cầu tính lãi, mức lãi suất trong hạn 1,1%/tháng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là 1,65%/tháng. Cụ thể tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 24/9/2024, tiền lãi trong hạn còn thiếu: 1.673.529 đồng. Tiền lãi quá hạn:

18.537.087 đồng. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ và khoản 2 Điều 5 Nghị Quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Yêu cầu này của Công ty là phù hợp, nên ông V phải có nghĩa vụ trả số tiền lãi còn thiếu cho Công ty.

[2.4] Đối với ông Võ Thành V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng Ông không có văn bản ý kiến, không đến Tòa để trình bày và yêu cầu về nội dung giải quyết việc vay tiền và cầm cố như thế nào, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xác định được số tiền ông V đã trả cụ thể và các nội dung khác. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của nguyên đơn, quy định của pháp luật, buộc ông V trả tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 24/9/2024 theo yêu cầu của Công ty là: tiền vốn gốc: 24.167.986 đồng, tiền lãi trong hạn: 1. 673.529 đồng. Tiền lãi quá hạn: 18.537.087 đồng. Tổng cộng: 44.378.602 đồng.

[2.5] Đối với việc xử lý tài sản cầm cố là chiếc xe máy đã cho bị đơn mượn lại để sử dụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Công ty trình bày Công ty không có yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, chỉ yêu cầu ông V trả số tiền còn thiếu như trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do ông Võ Thành V phải trả cho Công ty số tiền 44.378.602 đồng nên phải chịu án phí là 44.378.602 đồng x 5% = 2.219.000 đồng (làm tròn số).

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 244, 266, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 309, Điều 311, Điều 312, Điều 314, Điều 315, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S2 Có Ngay. Buộc ông Võ Thành V phải có trách nhiệm trả cho Công ty Cổ phần S2 Có Ngay tổng số tiền tính đến ngày 24/9/2024 là 44.378.602 đồng (trong đó nợ gốc 24.167.986 đồng; tiền lãi trong hạn: 1.673.529 đồng; lãi quá hạn 18.537.087).
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm; ông Võ Thành V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
  3. Ngay sau khi ông Võ Thành V thanh toán hết nợ, Công ty Cổ phần S2 Có Ngay có nghĩa vụ trả lại bản chính giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 060145 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 03/3/2020 cho ông V.
  4. Về xử lý tài sản cầm cố: Công ty Cổ phần S2 có ngay không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí:

    Ông Võ Thành V phải chịu: 2.219.000 đồng (Hai triệu hai trăm mười chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Công ty Cổ phần S2 Có Ngay không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại số tiền 1.588.000 đồng (Một triệu năm trăm tám mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000750 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR - TC;
  • - Chi cục THADS Tp. PR-TC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, AV).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản

  • Số bản án: 82/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay có cầm cố tài sản, hợp đồng mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger