Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thượng Quang Minh

2. Ông Điểu Kim Rương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST- HS ngày 10/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Điểu M, sinh năm 2001, tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xtiêng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12.

Nơi cư trú: Tổ A, ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Cha: Điểu K, sinh năm 1979, Mẹ: T, sinh năm 1982; Bị cáo có 03 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2008; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 24/12/2023 bị cáo có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự từ ngày 24/12/2023, đến ngày 02/01/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án và khởi tố bị can. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Điểu K1, sinh năm 1992 tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xtiêng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12.

Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước.

1

Cha: Điểu T, sinh năm 1970, Mẹ: Thị Tắc, sinh năm 1974; Bị cáo có 04 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2004; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Về nhân thân: Ngày 11/11/2008 Tòa án nhân dân huyện Bình Long (nay là thị xã B) xử phạt 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng; theo Bản án số 115/2008/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án nên được xóa án tích theo quy đinh. Ngày 24/12/2023 bị cáo có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự từ ngày 24/12/2023, đến ngày 02/01/2024 bị khởi tố và tạm giam. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 11/4/2024 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Điểu D, sinh năm 1995 tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: M1; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: X tiêng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 5/12.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ 1, ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Nơi ở hiện tại: Tổ B, ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Cha: Điểu Q, sinh năm 1970, Mẹ: Thị Hỡi, sinh năm 1974; Bị cáo có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2001; Bị cáo có vợ là Điểu Thị S (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 24/12/2023 bị cáo có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự từ ngày 24/12/2023, đến ngày 02/01/2024 bị khởi tố và tạm giam. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 24/01/2024 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Điểu D là ông Trần Mih Đ – Luật sư, Công ty L và cộng sự, thuộc đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 24/12/2023, sau khi uống rượu xong Điểu M rủ Điểu D đi đến nhà Đ, thuộc ấp B, phường H, thị xã B để mượn tiền đi mua ma túy về cùng sử dụng thì Điểu D đồng ý. Den điều khiển xe mô tô biển số 93C1-269.84 chở M đi đến nhà Đ, trên đường đi thì gặp K1 nên dừng xe lại. M hỏi K1 mượn số tiền 200.000 đồng để mua ma túy về sử dụng thì K1 đồng ý. Do K1 không có tiền nên nói M và D đi cùng K1 đến gặp chú H (người thuê K1 cạo mủ cao su) để ứng

2

500.000đ tiền lương. Sau khi gặp được chú H, ứng số tiền 500.000đ, K1 đưa cho D số tiền 500.000 đồng và nói là mua 300.000 đồng ma túy đưa lên lô cao su K1 đang cạo thuê để cùng nhau sử dụng thì M và D đồng ý. Sau đó, M và D đi đến khu vực chùa "", thuộc phường H, thị xã B gặp nam thanh niên tên T1 (không rõ lai lịch) mua được 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D và M cầm gói ma túy đi đến nơi K1 đang cạo mủ cao su, thuộc tổ F, ấp C, xã M, huyện H. Tại đây, D và M nói cho K1 biết là đã mua hết 400.000₫ ma túy, còn lại số tiền 100.000 đồng, D đưa lại cho K1. Sau đó, K1 đi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để cho cả nhóm cùng nhau sử dụng ma túy. Khi 03 đối tượng Điểu M, Điểu D và Điểu K1 đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với D, M và K1 đều cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy).

Tại cơ quan điều tra Điểu M, Điểu K1 và Điểu D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Căn cứ Kết luận giám định số: 1290/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

  • + Chất rắn màu nâu (ký hiệu M1) bên trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0533 gam.
  • + Chất màu nâu đen (ký hiệu M2) bám dính trong 01 đoạn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu ở dạng vết nên không xác định được khối lượng.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 319/KL-VPYTW ngày 16/5/2024 của V đối với bị can Điểu D như sau:

  • + Về Y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn / Động kinh (F07.8/G40-ICD.10).
  • + Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, hiện nay đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra xác định vai trò của từng bị can như sau:

Điểu M là người khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma túy; là người trực tiếp cùng Điểu D đi mua ma túy về cho cả nhóm sử dụng.

Điểu D là người cùng nhau bàn bạc đi mua ma túy, là người điều khiển xe mô tô chở Đ1 M đi mua ma túy về cho cả nhóm sử dụng, thể hiện vai trò đồng phạm với Điểu M.

Điểu Khánh, là người trực tiếp đưa tiền cho Điểu D và Điểu M đi mua ma túy; là người người cung cấp dụng cụ để sử dụng chất ma túy và bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang; là người đồng phạm với Điểu M và Điểu D.

3

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- Đối với 0,0533 gam chất ma túy loại Methamphetamine (M1), đã sử dụng hết cho công tác giám định nên không đề cập xử lý.

- Đối với 01 ống thuỷ tinh trong suốt có chiều dài 06cm một đầu được uốn cong và có bầu tròn đã bị vỡ thành nhiều mảnh nhỏ hoàn lại sau giám định (M2), 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu Wake-up 247, 01 quẹt ga màu trắng nhãn hiệu Hoa Việt có các bộ phận đã được tháo rời, 01 đoạn ống hút nhựa màu đen cắt vát nhọn một đầu, 01 đoạn ống hút nhựa sọc trắng và 01 dao lam nhãn hiệu CROMA. Quá trình điều tra xác định là các dụng cụ của Điểu K1 cất giấu tại lô cao su với mục đích để sử dụng ma túy. Những đồ vật trên là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 106, Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với xe môtô (nhãn hiệu HONDA WINNER X, màu đỏ đen) biển số 93C1 - 269.84, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Điểu Q, sinh năm: 1964, (cha của bị can Điểu D). Ngày 24/12/2023, ông Q cho Điểu D mượn xe mô tô nêu trên đi chơi. Ông Q không biết việc Điểu D sử dụng xe mô tô của mình để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho ông Đ1 Quýt theo quy định.

Về vấn đề dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.

Bản các trạng số 68/CT-VKS ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Điểu M, Điểu K1 và Điểu D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2917 xử phạt bị cáo Điểu M từ 07 (B) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T2) năm tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2917 xử phạt bị cáo Điểu K1 từ 07 (B) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T2) năm tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2917 xử phạt bị cáo Điểu D từ 05 (Năm) năm đến 06 (S1) năm tù.

4

Vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Điểu Mạnh, Điểu K1 và Điểu D đều nhận thức được lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

Người bào chữa cho bị cáo cho bị cáo D thống nhất với nội dung của bản cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và đề nghị mức hình phạt. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật thấp; là người có bệnh hạn chế về hành vi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 24/12/2023, Điểu M, Điểu K1 và Điểu D đã có hành vi bàn bạc thống nhất chuẩn bị ma túy, địa điểm, dụng cụ để cùng nhau sử dụng ma túy tại lô cao su, thuộc tổ F, ấp C, xã M, huyện H và bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Điểu D, Điểu M và Điểu K1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của các bị cáo Điểu D, Điểu M và Điểu K1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo với các tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng

5

trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân để gây ra các loại tội phạm khác nên phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, để có cơ sở định tội, lượng hình chính xác, phù hợp cần thiết phải đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với từng bị cáo, cụ thể như sau:

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo chịu tình tiết tăng nặng định khung là phạm tội đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Điểu K1 có nhân thân xấu, ngày 11/11/2008 Tòa án nhân dân huyện Bình Long (nay là thị xã B) xử phạt 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng; theo Bản án số 115/2008/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án nên được xóa án tích theo quy đinh nhưng bị cáo không lấy đó để rút kinh nghiệm cho bản thân mà bị cáo lại phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất mà túy, thể hiện sự xem thường pháp luật, không có ý thức chấp hành pháp luật nên cần hình phạt xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, trình độ học vấn thấp chỉ học hết lớp 5 và lớp 6/12 nên các bị cáo còn hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Riêng đối với bị cáo Điểu D còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; là lao động chính trong gia đình; nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2917. Xét thấy, bị cáo Điểu D1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và là người phạm tội có bệnh hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vị nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tính chất răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và tạo điều kiện để bị cáo có thời gian điều trị bệnh nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo D1 là nghiêm khắc nên cần điều chỉnh.

[5] Về vai trò phạm tội của các bị cáo:

Bị cáo Điểu M, Điểu K1 và Điểu D là bạn với nhau và nhiều lần cùng nhau sử dụng ma túy nên ngày 24/12/2023, sau khi uống rượu xong Điểu M rủ Điểu D

6

đi đến nhà Đ1 K1 cùng nhau vay tiền và góp tiền để mua ma túy và cùng nhau sử dụng nên vai trò hành vi của các bị cáo là nguy hiểm như nhau; đây là đồng phạm giản đơn, không ai là người khởi xướng mà cùng nhau thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo Điểu K1 có nhân thân xấu nên cần xử lý mức án nghiêm khắc hơn các đồng phạm khác; bị cáo Điểu D có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xử phạt bị cáo mức án ít nghiêm khắc hơn các bị cáo khác là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng: Qua nghiên cứu hồ sơ và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm xử lý vật chứng như Cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa đã đề xuất.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Điểu M, Điểu K1 và Điểu D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015 và đề xuất mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Điểu D mức án từ 05 đến 06 năm tù là nghiêm khắc, chưa tương xứng với tính chất và mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên cần điều chỉnh theo hướng nhẹ hơn nên chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Điểu M, Điểu K1 và Điểu D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” .

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

  • Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Bị cáo Điểu M mức án 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023.
  • Tiếp tục tạm giam bị cáo Điểu M thời gian 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  • Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Điểu K1 mức án 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 11/4/2024.

7

  • Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Bị cáo Điểu D mức án 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 24/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy:

Đối với 01 ống thuỷ tinh trong suốt có chiều dài 06cm một đầu được uốn cong và có bầu tròn đã bị vỡ thành nhiều mảnh nhỏ hoàn lại sau giám định (M2), 01 vỏ chai nhựa nhãn hiệu Wake-up 247, 01 quẹt ga màu trắng nhãn hiệu Hoa Việt có các bộ phận đã được tháo rời, 01 đoạn ống hút nhựa màu đen cắt vát nhọn một đầu, 01 đoạn ống hút nhựa sọc trắng và 01 dao lam nhãn hiệu CROMA. Đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng.

(Vật chứng được mô tả và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0006019 ngày 16/9/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).

Các vật chứng khác đã được Cơ quan điều tra Công an huyện H xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Điểu M, Điểu K1 và Điểu D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Công an huyện Hớn Quản;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: TA, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Học

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger