Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/DS-ST

Ngày 16/9/2024

V/v “Tranh chấp thừa kế QSD đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung

Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Văn Vui;

2. Ông Nguyễn Văn Kim;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh – Thư ký TAND huyện Mỏ Cày Bắc.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham dự phiên tòa:

Ông Lê Văn Bình – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và ngày 16/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 253/2023/TLST-DS ngày 24/11/2023 về việc “Tranh chấp thừa kế”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2024/QĐXXST-DS ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    1. Bà Võ Thị T, sinh năm: 1966;

      Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    2. Bà Võ Thị H, sinh năm: 1967;

      Địa chỉ: khu phố T, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

    Ông Võ Hùng D, sinh năm: 1960;

    Địa chỉ: A, Đ, KP B, phường F, Tp B, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn:

    bà Võ Thị H1, sinh năm: 1963;

    Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

    Ông Phùng Minh C, sinh năm: 1984;

    Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Võ Thị C1, sinh năm: 1975;

      Địa chỉ: khu phố P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    2. Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm: 1969;

      Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

      Địa chỉ tạm trú: ấp A, xã S, Tp B, tỉnh Bến Tre.

    3. Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm: 1981;

      Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

    4. Anh Huỳnh Minh T2, sinh năm: 1995;

      Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

    Ông Phùng Minh C, sinh năm: 1984;

    Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    1. Chị Trương Thị Thùy L, sinh năm: 1992;

      Địa chỉ: KP P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    2. Chị Trương Thị P1, sinh năm: 1980;

      Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    3. Anh Trương Văn S, sinh năm: 1983;

    4. Anh Trương Hoàng N, sinh năm: 1987;

    5. Chị Trương Thị K, sinh năm: 1979;

      Địa chỉ: KP P, thị trấn P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  4. Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập:

    Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1960;

    Địa chỉ: ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Bà C1, anh N, S, chị P1, K và L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Các đương sự khác có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/9/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Võ Hùng D trình bày:

Cha của bà T và H là cụ Võ Văn N1, sinh năm 1939, chết năm 2002; mẹ là cụ Nguyễn Thị S1, sinh năm 1938, chết năm 1974. Cụ N1 và cụ S1 có 05 người con là Võ Thị H1, Võ Thị T, Võ Thị H, Võ Thị M và Võ Thị C1. Bà Võ Thị M bị bệnh chết năm 2009 có một người con tên Huỳnh Minh T2; chồng của bà M là Huỳnh Văn T1 đã tham gia tố tụng.

Cụ N1 và cụ S1 tạo lập được 6.880m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau đó, cụ N1 chết không để lại di chúc nên năm 2002, dì và cậu của bà T, bà H là Nguyễn Thị T3 và Nguyễn Văn Ú đã đứng ra phân chia cho các chị em của bà H, bà T. Cả 05 chị em của bà H, bà T đều đã có phần. Cụ thể:

  • Bà Võ Thị H1 được hưởng 840m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Bà Võ Thị T được hưởng 900m² đất vườn, tọa lạc tại ấp P, xã P (nay là khu phố P, thị trấn P), huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Bà Võ Thị H được hưởng 840m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Bà Võ Thị M được hưởng 1.500m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Bà Võ Thị C1 được hưởng 1.800m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Những người con được phân chia đã nhận phần của mình và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần còn lại đang tranh chấp có diện tích 1.000m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre các chị em thống nhất để lại làm đất hương hỏa chỉ thỏa thuận miệng không có chứng cứ chứng minh; việc này có ông Ú và bà T3 biết. Ông Ú, bà T3 có xác nhận và đã cung cấp cho Tòa án. Phần diện tích 1.000m² đất này các chị em thống nhất giao cho bà M quản lý, sử dụng thu hoa lợi trên đất để cúng giỗ. Trên đất có 01 căn nhà 03 gian cột gỗ, vách lá, mái lợp tôn fibrô ximăng xen với lá, nền đất, diện tích nhà khoảng 200m².

Năm 2009, bà M bệnh chết. Chồng bà M là ông T1 tiếp tục quản lý đất và sinh sống tại căn nhà này. Đến năm 2012, ông T1 đi làm ăn xa nên không trực tiếp canh tác trên đất và ở tại căn nhà này nữa. Lúc này không ai thờ cúng cụ N1, nhà không có người ở nên xuống cấp và hư hỏng. Năm 2019, các chị em bà H đã dỡ căn nhà ba gian này và cất lại căn nhà nhỏ tạm khoảng 16m² để giữ vườn.

Năm 2015, bà H là người thờ cúng cụ N1. Tại ngày giỗ của cụ N1, bà Nguyễn Thị M1, là cô của bà H, bà T, thống nhất với các chị em bà H giao cho bà H cúng giỗ cụ N1 và bà H được quản lý, sử dụng 1.000m² đất hương hỏa này. Tuy nhiên, bà H có nhà ở thị trấn P, còn đất ở xã H (nay là xã H A) không có điều kiện quản lý nên cùng thống nhất giao 1.000m² đất đang tranh chấp này cho bà H1 quản lý, sử dụng. Hàng năm, bà H1 gửi tiền thu hoa lợi trên đất cho bà H để làm đám giỗ cho cụ N1. Từ năm 2015 đến nay, bà H1 đưa cho bà H tiền cúng giỗ khoảng 25.000.000 đồng.

Năm 2018, chồng của bà H1 là ông Phùng Văn Đ đến gặp các chị em của bà H gồm T, H và C1, ông T1 yêu cầu cung cấp thông tin để bà H1 làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 1.000m² đất hương hỏa này. Trước khi cung cấp thông tin theo yêu cầu của ông Đ, các chị em bà H có thỏa thuận miệng với bà H1 là bà H1 chỉ đại diện đứng tên quyền sử dụng đất thửa đất này, không có quyền định đoạt. Nếu có tặng cho, sang nhượng thì phải có sự đồng ý của tất cả các chị em còn lại. Bà H1 đã đồng ý thỏa thuận này. Bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.000m² đất hương hỏa này vào năm 2021, thửa số 10, tờ bản đồ 5, diện tích 2.505m², tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Trong diện tích 2.505m² đất bà H1 được cấp quyền sử dụng có 1.000m² đất hương hỏa, còn 1.505m² còn lại là của bà M. Bà H, bà T không biết lý do vì sao bà H1 lại được đứng tên cả 1.505m² đất của bà M. Phần đất hương hỏa tại vị trí phía ngoài, giáp đường lộ (mặt tiền) có căn nhà trên đất; còn đất bà M ở phía bên trong phần 1.000m² đất hương hỏa nhưng không có cọc ranh để phân biệt hai phần đất này.

Đến năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện M có chủ trương làm đường là tuyến tránh Phước Mỹ T4 – H, đường đi ngang qua phần đất hương hỏa. Phần bị giải tỏa có diện tích 643,4m² và căn nhà nhỏ 16m² trên đất cũng bị giải tỏa. Tiền giải tỏa, đền bù đất và nhà trên đất là 358.154.000 đồng do bà H1 trực tiếp nhận. Sau khi các chị em biết phần đất giải tỏa có bồi thường tiền nên yêu cầu bà H1 chia tiền này ra nhưng bà H1 không đồng ý. Bà H1 cho rằng đất giải tỏa bà H1 đang đứng tên nên không đồng ý chia dẫn đến tranh chấp.

Bà H và bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Cụ thể:

- Chia thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ 643,40m² đất vườn và nhà gắn liền với đất trong phần 1.000m² đất hương hỏa đã thu hồi làm tuyến đường tránh với số tiền 358.154.000 đồng theo hàng thừa kế thứ nhất cho 05 phần đều nhau. Do bà Võ Thị C1 từ chối không nhận số tiền hỗ trợ nên yêu cầu chia số tiền trên thành 04 phần bằng nhau là 358.154.000 đồng : 4 = 89.538.000 đồng. Như vậy, bà Võ Thị H, Võ Thị T, Võ Thị H1 và Võ Thị M do ông Huỳnh Văn T1, anh Huỳnh Minh T2 (chồng và con của bà M là người thừa kế của bà M nhận), mỗi người được nhận số tiền 89.538.000 đồng.

- Phần đất hương hỏa còn lại thống nhất giao lại cho bà Võ Thị H1 quản lý với điều kiện bà H1 không được tặng cho, sang nhượng cho bất kỳ ai khi chưa được thống nhất của tất cả chị em trong gia đình.

Việc thờ cúng cha của bà T, H trong thời gian tới do chị em bà T, H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 28/5/2024, bà T và bà H khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Võ Thị H1 phải chia tiền bồi thường, hỗ trợ phần đất có diện tích 498 m², 01 căn nhà, cây trồng và các chính sách hỗ trợ khác trên phần 1.187,5m² đất hương hoả đã thu hồi làm tuyết đường tránh với số tiền 292.288.071 đồng theo hàng thừa kế thứ nhất cho 05 phần đều nhau, nhưng do bà Võ Thị C1 từ chối không nhận số tiền hỗ trợ phần bà (có văn bản từ chối nhận di sản kèm theo). Nên bà T, bà H yêu cầu chia số tiền trên làm 04 phần bằng nhau: 292.288.071 đồng : 4 = 73.100.000 đồng. Như vậy, số tiền bà T, bà H được nhận là 73.100.000 đồng x 2 = 146.200.000 đồng. Do bà Võ Thị M đã chết, chồng là Huỳnh Văn T1 đã có vợ khác nên con bà M là Huỳnh Minh T2 sẽ nhận số tiền của bà M.

Buộc bà Võ Thị H1 phải chia đều phần đất hương hoả còn lại mà bà T, bà H được hưởng bao gồm: thửa đất 476, tờ bản đồ số 5; thửa đất 475A, tờ bản đồ số 5; thửa đất 475B, tờ bản đồ số 5, diện tích 689,5 m², toạ lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre cho 4 người: 698,5 m² : 4 = 172,4m². Bà T, bà H yêu cầu được nhận giá trị quyền sử dụng đất là: 172,4 m² x 700.000 đồng/m² = 120.680.000 đồng. Như vậy Võ Thị H1, Võ Thị T, Võ Thị H, Huỳnh Minh T2 mỗi kỷ phần được hưởng là 120.680.000 đồng.

Tổng hai khoản tiền mà bà T, bà H được nhận là (120.680.000 đồng + 73.100.000 đồng) x 2 = 387.560.000 đồng.

Việc thờ cúng cha của bà T, H trong thời gian tới do chị em bà T, H tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Phùng Minh C trình bày:

Anh C thừa nhận những lời trình bày trên đây của ông D về nhân thân của cụ N1, cụ S1; số người con của cụ N1 và cụ S1 sinh ra; thông tin bà M đã chết và người thừa kế của bà M, là đúng. Tuy nhiên, cụ S1 chết năm 1975 không phải năm 1974 nhưng không có chứng cứ chứng minh. Ngoài ra, phần diện tích khoảng 6.880m² đất vườn là di sản của cụ N1 không phải tài sản chung của cụ N1 và cụ S1. Nguồn gốc đất khoảng 900m² đất ở P là cụ N1 được thừa kế; phần còn lại 5.980m² là cụ N1 được nhà nước cấp cho cụ N1.

Năm 2002, cụ N1 chết không để lại di chúc. Các chị em của bà H1 tự phân chia di sản của cụ N1 để lại thành 06 phần. Cụ thể:

  • Bà Võ Thị H1 được hưởng hơn 1.000m² đất vườn nhưng không biết cụ thể diện tích bao nhiêu, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Ông Phùng Tấn P2, là con của bà H1, được hưởng hơn 1.000m² đất vườn nhưng không biết cụ thể diện tích bao nhiêu, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Lý do ông P2 được hưởng một phần di sản của cụ N1 vì cụ N1 xin

ông P2 về nuôi khi ông P2 mới 01 tuổi. Cụ N1 có hứa sẽ để lại một phần di sản cho ông P2 nhưng không có chứng cứ chứng minh.

  • Bà Võ Thị T được hưởng khoảng 900m² đất vườn, tọa lạc tại ấp P, xã P (nay là khu phố P, thị trấn P), huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Bà Võ Thị H được hưởng khoảng 840m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Bà Võ Thị M được hưởng khoảng 1.500m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  • Bà Võ Thị C1 được hưởng khoảng 1.800m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Phần đất đang tranh chấp thuộc thửa số 10, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Phần đất phân chia cho bà H1 với ông P2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2021, diện tích khoảng hơn 3.500m² do bà H1 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bà H1 đứng tên cả phần của ông P2). Lý do bà H1 được cấp quyền sử dụng đất diện tích 3.500m² đất, hơn phần diện tích bà H1 và ông P2 được hưởng theo sự phân chia nêu trên vì bà H1 được nhận một phần đất của cụ N1 tại vị trí đám mạ diện tích khoảng 250m² bà H chưa đưa vào di sản thừa kế; ngoài ra, phần diện tích đất của bà M được hưởng là 1.500m² cũng đưa cho bà H1 được hưởng phần đất này. Sở dĩ bà M để lại phần 1.500m² đất của bà M cho bà H1 hưởng vì bà H1 là người nuôi Huỳnh Minh T2, con của ông T1 và bà M; ông T1 đi làm ăn xa không có điều kiện chăm sóc vườn; bà C1, ông T1, bà M biết ý chí của cụ N1 khi còn sống để lại hết đất của cụ N1 cho ông P2 hưởng nên những người này đồng ý để lại cho ông P2 nhưng do ông P2 lúc này đi làm ăn xa nên để cho bà H1 đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cụ N1 có ý định để lại toàn bộ đất của cụ N1 cho ông P2 hưởng không có chứng cứ gì. Vì những lý do trên nên bà H1 được cấp quyền sử dụng phần đất hơn 3.500m².

Theo sự phân chia như trên, những người con còn lại có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa thì bà H1 không biết, vì bà H1 không có ký tên để những người còn lại làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì trong gia đình có tranh chấp. Bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là những chị em còn lại đã ký tên đầy đủ.

Trên đất đang tranh chấp có 01 căn nhà diện tích khoảng 70m² kết cấu cột gỗ, vách gỗ và tôn, mái tôn. Nhà của cụ N1 để lại hiện nay ông P2 đang sinh sống.

Đến năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện M có chủ trương làm đường là tuyến tránh Phước Mỹ T4 – H, đường đi ngang qua phần đất hương hỏa. Phần đất bị giải tỏa có diện tích 643,4m² không có giải tỏa căn nhà. Tiền giải tỏa, đền bù đất là 358.154.000 đồng do bà H1 trực tiếp nhận. Sau khi bà H, bà T biết phần đất giải tỏa có bồi thường tiền nên yêu cầu bà H1 chia tiền này ra nhưng bà H1 không đồng ý vì đất giải tỏa bà H1 đang đứng tên nên tiền đền bù là bà Hà H2. Phần đất còn lại khoảng 857m² vẫn là của bà H1.

Bà H1 gửi tiền thu hoa lợi trên 3.500m² đất cho bà H để làm đám giỗ cho cụ N1. Từ năm 2015 đến nay bà H1 đưa cho bà H tiền cúng giỗ khoảng trên 30.000.000 đồng (kể cả tiền cúng giỗ phần của ông P2). Số tiền này bà H1, ông P2 đưa thêm chứ tiền thu hoa lợi trên đất không đủ để cúng giỗ.

Các chị em bà H1 không có thỏa thuận để lại 1.000m² đất để làm đất hương hỏa. Do cụ N1 có ý nguyện ông P2 cúng giỗ cụ N1 nên ông P2 đưa tiền cúng giỗ cho bà H. Ông P2 đưa tiền cúng giỗ cụ N1 từ năm 2002 không phải đến khi bà H giỗ ông P2 mới đưa.

Ngoài ra, anh C đại diện cho ông T1, P2 và T2 thống nhất theo lời trình bày của bà H1 và không đồng ý với yêu cầu của bà H và bà T.

Tại “Giấy từ chối nhận tiền bồi thường tuyến tránh liên quan đến phần đất hương hỏa do bà Võ Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” ngày 26/9/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị C1 trình bày:

Cha của chị em bà C1 là cụ Võ Văn N1, chết năm 2002; mẹ là cụ Nguyễn Thị S1, chết năm 1974. Cha mẹ bà C1 có 05 người con như các chị em bà đã trình bày. Cụ N1 và cụ S1 chết để lại di sản là quyền sử dụng đất diện tích 6.880m² đất vườn nhưng không lập di chúc. Năm 2002, dì và cậu của bà T, bà H là Nguyễn Thị T3 và Nguyễn Văn Ú đã đứng ra phân chia cho các chị em của bà. Sau khi chia, còn lại 1.000m² đất vườn tọa lạc tại ấp G, xã H chị em bà thống nhất để lại làm đất hương hỏa và giao cho bà Võ Thị M quản lý. Năm 2009, bà M bị bệnh chết. Đến năm 2015, phần đất hương hỏa được giao cho bà H1 quản lý, thu huê lợi hàng năm giao cho bà H cúng giỗ.

Khoảng năm 2018, các chị em bà cùng với dì, cậu ruột thống nhất giao cho bà H1 đăng ký làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 1.000m² đất hương hỏa nói trên. Bà H1 đại diện đứng tên mục đích để có người quản lý không phải phần đất này của cá nhân bà H1. Bà H1 không có quyền quyết định như tặng cho, sang nhượng đất hương hỏa khi chưa thống nhất với tất cả chị em trong gia đình.

Đến năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện M có chủ trương làm đường là tuyến tránh Phước Mỹ T4 – H, đường đi ngang qua 1.000m² đất hương hỏa. Tiền giải tỏa, đền bù là 358.154.000 đồng do bà H1 trực tiếp nhận theo Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 10/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện M về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư dự án: Tuyến tránh Phước M, huyện M, tỉnh Bến Tre (Đợt 8 – đoạn xã H), số tiền này phải được chia đều cho 05 chị em bà, mỗi người là 71.630.800 đồng.

Do đời sống kinh tế của bà C1 ổn định nên bà C1 tự nguyện từ chối không nhận số tiền Nhà nước bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bà C1 được hưởng để nhường lại cho các chị bà hưởng.

Tại “Văn bản từ chối nhận di sản” người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị P1, Trương Thị Thùy L, Trương Thị K, anh Trương Hoàng N và Trương Văn S trình bày:

Chị P1, anh S là con của ông Trương Văn D1; anh N và chị L là con của ông Trương Quốc V. Ông D1 và ông V là con dòng trước của cụ Nguyễn Thị S1. Các anh chị từ chối nhận di sản tại các thửa đất (theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất) số 489A, 476, 475A, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.187m², tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Các anh chị từ chối nhận thừa kế các thửa đất nêu trên mà các anh chị được hưởng. Lý do các anh chị đã có tài sản riêng. Các anh chị từ chối tham gia tố tụng và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Võ Hùng D trình bày:

Bà H, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chia tiền bồi thường của 1.000m² phần đất hương hỏa bà H1 đang đứng tên quyền sử dụng đất theo thỏa thuận. 1.000m² này đã tách biệt với diện tích đất theo sự phân chia ở trên không có liên quan gì. Còn phần đất theo sự phân chia trình bày trên đây những người được nhận đã được cấp quyền sử dụng. Bà H được cấp quyền sử dụng ngày 31/8/2015; bà T được cấp quyền sử dụng khoảng năm 2012 – 2013; còn phần của bà C1 cũng được cấp quyền sử dụng diện tích 1.800m² nhưng không biết năm nào; bà M được hưởng 1.500m² sau khi bà M chết ông T1 thỏa thuận sao với bà H1 phần đất này bà T, bà H không biết. Đối với phần diện tích khoảng 250m² đất anh C trình bày là đất đám mạ hiện nay bà H1 đang quản lý và đã được cấp quyền sử dụng, bà H và T đồng ý cho bà H1 được hưởng phần đất này và không có tranh chấp hay yêu cầu Tòa án giải quyết phần đất này.

Do tiền hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm do thu hồi đất nông nghiệp là 63.696.000 đồng; hỗ trợ ổn định đời sống là 675.000 đồng bồi thường cho người trực tiếp canh tác trên đất nên bà T và bà H không yêu cầu bà H1 chia tiền này. Số tiền còn lại bà H1 phải chia là 228.917.000 đồng : 4 = 57.300.000 đồng/kỷ phần.

Người làm chứng do nguyên đơn triệu tập ông Nguyễn Văn Ú trình bày:

Tại đám giỗ của cụ N1, ông Ú có nghe các chị em bà H bàn bạc để lại 1.000m² đất để làm đất hương hỏa. Ông Ú không có đứng ra chia đất cho các chị em bà H và quyết định để lại 1.000m² đất hương hỏa. Ông nghe nói lại phần đất đang tranh chấp nêu trên có một phần là của cha mẹ ông cho cụ S1. Ông Ú không trực tiếp chứng kiến việc cha mẹ ông cho đất cho cụ S1, không biết phần đất cụ S1 được cho tại vị trí nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các điều 21, 26, 35, 36, 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 645, 649, 650, 651, 656 Bộ luật dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 25/7/2023, bà Võ Thị T và Võ Thị H1 khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ 643,40m² đất vườn và nhà gắn liền với đất trong phần 1.000m² đất hương hỏa đã thu hồi làm tuyến đường tránh với số tiền 358.154.000 đồng theo hàng thừa kế thứ nhất cho 04 phần, mỗi kỷ phần là 89.538.000 đồng. Phần đất hương hỏa còn lại thống nhất giao lại cho bà Võ Thị H1 quản lý, không được tặng cho, sang nhượng cho bất kỳ ai khi chưa được thống nhất của tất cả chị em trong gia đình.

Ngày 28/5/2024, bà T và bà H khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Võ Thị H1 phải chia tiền bồi thường, hỗ trợ phần đất có diện tích 498m², 01 căn nhà, cây trồng và các chính sách hỗ trợ khác trên phần 1.187,5m² đất hương hoả đã thu hồi làm tuyết đường tránh với số tiền 292.288.071 đồng : 4, mỗi kỷ phần là 73.100.000 đồng. Buộc bà Võ Thị H1 phải chia đều phần đất hương hoả còn lại mà bà T, bà H được hưởng bao gồm: thửa đất 476, tờ bản đồ số 5; thửa đất 475A, tờ bản đồ số 5; thửa đất 475B, tờ bản đồ số 5, diện tích 689,5 m², toạ lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre cho 4 người: 698,5 m² : 4 = 172,4m². Bà T, bà H yêu cầu được nhận giá trị quyền sử dụng đất là: 172,4 m² x 700.000 đồng/m² = 120.680.000 đồng. Như vậy Võ Thị H1, Võ Thị T, Võ Thị H, Huỳnh Minh T2 mỗi kỷ phần được hưởng là 120.680.000 đồng. Tổng hai khoản tiền mà bà T, bà H được nhận là (120.680.000 đồng + 73.100.000 đồng) x 2 = 387.560.000 đồng. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp di sản thừa kế dùng vào việc thờ cúng” quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu của bà T và bà H yêu cầu chia thừa kế tiền bồi thường, hỗ trợ 498m² đất vườn và nhà gắn liền với đất trong phần 1.000m² đất hương hỏa đã thu hồi làm tuyến đường tránh với số tiền 292.288.071 đồng:

[2.1] Theo ông D, đại diện cho bà T và bà H:

Cha mẹ của các bà là cụ Võ Văn N1 và cụ Nguyễn Thị S1. Hai cụ có 05 người con là bà H1, bà T, H, M và C1. Bà Võ Thị M bị bệnh chết năm 2009 có một người con tên Huỳnh Minh T2. Cụ N1 và cụ S1 tạo lập được 6.880m² đất vườn, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. Cụ N1 chết không để lại di chúc nên năm 2002, dì và cậu của bà T, bà H đã phân chia phần đất trên cho các chị em của bà H, bà T. Cả 05 chị em của bà H, bà T đều đã có phần. Còn lại 1.000m² để lại làm đất hương hoả các chị em đồng ý để cho bà H1 quản lý, sử dụng. Năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện M làm tuyến tránh Phước Mỹ T4 – H A đi ngang qua phần đất hương hỏa. Tiền giải tỏa, đền bù đất và nhà trên đất là 358.154.000 đồng do bà H1 trực tiếp nhận nhưng bà H1 không chia tiền này ra cho các chị em nên dẫn đến tranh chấp. Chứng cứ chứng minh: Bảng áp giá công trình dự án tuyến tránh Phước M, huyện M, tỉnh Bến Tre (bản chính); Biên bản kiểm kê (bản sao chứng thực); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (bản sao không chứng thực); Trích lục bản đồ địa chính (bản sao không chứng thực); Phiếu đóng góp ý kiến (bản sao không chứng thực); Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 10/02/2023 của UBND huyện M; Danh sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án tuyến tránh Phước M, huyện M, tỉnh Bến Tre (đợt 8 – Đoạn xã H);

Giấy chứng tử (bản sao chứng thực); Trích lục khai tử (bản sao chứng thực); 03 văn bản tường trình về việc chia thừa kế di sản (bản chính); 02 bản xác nhận về N2 (bản chính); Giấy từ chối nhận tiền bồi thường tuyến tránh liên quan đến phần đất hương hỏa do bà Võ Thị H1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính); Quyết định số 427/QĐ-UBND ngày 10/02/2023 của UBND huyện M + Trích lục bản đồ địa chính (bản sao không chứng thực).

[2.2] Đối với yêu cầu của bà T, bà H; anh C là người đại diện của bị đơn, không đồng ý, vì phần đất thuộc thửa số 10(5) có tuyến tránh H – Phước Mỹ T4 đi qua đã được cấp quyền sử dụng đất cho bà H1; các chị em bà H1 không có thỏa thuận để lại 1.000m² đất thuộc một phần thửa 10(5) để làm đất hương hỏa nên không đồng ý chia số tiền bồi thường theo yêu cầu của bà T, bà H. Chứng cứ chứng minh: Văn bản giải trình tài liệu chứng cứ; Văn bản giải trình đề ngày 20/12/2023; Đơn yêu cầu hoà giải chia thừa kế đề ngày 08/5/2023 (bản sao không chứng thực); 04 giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (bản sao có chứng thực); 01 ảnh chụp giấy mời đề ngày 21/8/2023 (bản sao không có chứng thực); 01 ảnh chụp giấy mời đề ngày 10/6/2023 (bản sao không có chứng thực); 04 hình ảnh chụp ngôi nhà và quang cảnh xung quanh ngôi nhà bị giải tỏa ông P2 cất lại chứng minh ông Phùng Tấn P2 đang sinh sống tại ngôi nhà này.

[2.3] Xét thấy,

các đương sự trình bày thống nhất cụ N1 và cụ S1 có 05 người con là bà H1, T, H, M và C1. Cụ N1 chết năm 2002; cụ S1 chết năm 1974. Theo bà H và bà T, cụ N1 và cụ S1 tạo lập được 6.880m² đất vườn. Sau khi cụ N1 chết, các chị em bà H, bà T đã chia đất và đã nhận phần phân chia của mình quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, theo ông D, đại diện cho bà H, bà T, các chị em bà H, bà T có để lại 1.000m² để làm đất hương hoả. Phần đất này có nguồn gốc là của cha mẹ cụ S1 cho cụ N1 và cụ S1 nên là di sản của cụ N1 và cụ S1. Còn theo anh C, đại diện cho bà H1, phần đất nêu trên là di sản của cụ N1, vì cụ S1 đã chết năm 1974. Đất nêu trên là do cụ N1 canh tác trên đất của địa chủ sau khi giải phóng thì chiếm luôn đến ngày nay. Cả bà T, bà H và anh C, đại diện cho bà H1, đều không có chứng cứ chứng minh. Bà T, bà H có người làm chứng là ông Nguyễn Văn Ú, cậu ruột của các đương sự, biết sự việc này. Tại phiên toà, ông Ú trình bày ông nghe nói lại phần đất đang tranh chấp nêu trên có một phần là của cha mẹ ông cho cụ S1. Tuy nhiên, ông Ú không trực tiếp chứng kiến việc cha mẹ ông cho đất cho cụ S1, không biết phần đất cụ S1 được cho tại vị trí nào. Anh C, đại diện cho bị đơn không thừa nhận, không có chứng cứ nào khác chứng minh cho lời trình bày này của ông Ú nên không có căn cứ xem xét.

Ngoài ra, tại “Sổ mục kê Hưng Khánh Trung A” thể hiện cụ Võ Văn N1 đăng ký trong sổ mục kê đối với thửa đất 407(1) diện tích 950m² và thửa 408(1) diện tích 2.400m². Tại “Tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số 376/TTr-UBND ngày 29/12/2020 của Ủy ban nhân dân xã H: “Theo hồ sơ 299 thửa đất số 407, một phần thửa 408, tờ 1 có nguồn gốc là ông Võ Văn N1 sử dụng. Hiện nay theo đo đạc chính quy là thửa 10, tờ 5, diện tích 2.505,8m²”. Do không có chứng cứ nào chứng minh phần đất đang tranh chấp có một phần là di sản của cụ S1 nên không có căn cứ xem xét cho lời trình bày của ông D.

[2.4] Theo bà T, bà H:

sau khi cụ N1 chết, chị em bà tiến hành phân chia đất. Phần phân chia cho từng người mỗi người đã nhận và quản lý, sử dụng hoặc đã sang nhượng, không có tranh chấp và không yêu cầu giải quyết. Còn 1.000m² đang tranh chấp các chị em thống nhất để lại làm đất hương hoả. Đối với lời trình bày này của ông D, đại diện cho bà T, bà H, anh C, đại diện cho bà H1, không thừa nhận có thoả thuận này.

Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M cung cấp thể hiện: ngày 13/10/2020, bà H1, bà T, bà H và bà C1 cùng ký tên vào “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” thống nhất phân chia phần đất “diện tích 4.740,5m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .... Tất cả các thành viên thuộc hàng thừa kế thống nhất để lại cho: bà Võ Thị H1, .... được nhận thừa kế phần thửa đất số 10(5), diện tích 2.505,8m²; thửa 272(2) diện tích 206,1m²; thửa 262(2) diện tích 1.152,2m²; thửa số 47(5) diện tích 876,4m², toạ lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre”. Tại “Biên bản hoà giải” ngày 16/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, bà T và bà H1 trình bày: ““Văn bản phân chia tài sản thừa kế” ngày 13/10/2020, chúng tôi có ký tên đồng ý nội dung của văn bản này nhưng trước khi ký, chúng tôi có nói bà H1 chỉ đại diện đứng tên quyền sử dụng đất thửa đất này, không có quyền định đoạt. Nếu có tặng cho, sang nhượng thì phải có sự đồng ý của tất cả các chị em còn lại. Bà H1 đồng ý nên chúng tôi mới ký. Tuy nhiên, nội dung này chỉ thỏa thuận bằng lời nói với nhau mà không có lập thành văn bản nên không có chứng cứ cung cấp cho Tòa án”.

Từ các căn cứ nêu trên không có cơ sở xác định bà T, bà H, bà H1 và bà C1 có thoả thuận để lại phần đất 1.000m² thuộc một phần thửa 10(5) (nay là thửa 475, 476 và một phần thửa 489, tờ bản đồ số 5) để làm đất hương hoả. Do bà T, bà H không chứng minh được phần đất 1.000m² thuộc một phần thửa số 10(5) là đất hương hoả và phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 nên bà H1 được nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án tuyến tránh Phước M, huyện M, tỉnh Bến Tre (đợt 8 – Đoạn xã H) theo Quyết định số 412/QĐ-UBND ngày 10/02/2023 của Ủy ban nhân dân huyện M) là phù hợp; không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà H và bà T yêu cầu chia thừa kế số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án tuyến tránh Phước Mỹ T4 là 57.350.000 đồng và giá trị quyền sử dụng đất phần đất còn lại của mỗi kỷ phần là 172,4 m² là 120.680.000 đồng.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có cơ sở nên được chấp nhận.

[4] Về án phí, chi phí tố tụng:

* Về án phí: bà T, bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

* Chi phí tố tụng là 10.544.000 đồng bà T, bà H phải chịu. Bà T và bà H đã nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 645, 649, 651, 656 Bộ luật dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị T và Võ Thị H yêu cầu chia thừa kế số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án tuyến tránh Phước Mỹ T4 là 57.350.000đ/kỷ phần (Năm mươi bảy triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) và giá trị quyền sử dụng đất phần đất còn lại của mỗi kỷ phần là 172,4 m², tại thửa đất 476, tờ bản đồ số 5; thửa đất 475A, tờ bản đồ số 5; thửa đất 475B, tờ bản đồ số 5, diện tích 689,5 m², toạ lạc tại ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre, là 120.680.000đ (Một trăm hai mươi triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng).

  2. Về án phí, chi phí tố tụng:

    - Án phí dân sự sơ thẩm:

    + Bà Võ Thị T và Võ Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    + Hoàn trả cho bà Võ Thị T tổng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 4.844.000₫ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002363 ngày 24 tháng 11 năm 2023 và 0002912 ngày 31/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

    + Hoàn trả cho bà Võ Thị H tổng số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 4.844.000₫ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002364 ngày 24 tháng 11 năm 2023 và 0002911 ngày 31/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

    - Chi phí tố tụng:

    Bà Võ Thị T và Võ Thị H phải chịu là 10.544.000đ (Mười triệu năm trăm bốn mươi bốn ngàn đồng). Bà T, bà H đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp thừa kế qsd đất

  • Số bản án: 82/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế QSD đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị T tranh chấp thừa kế Võ Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger