Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/DS-ST

Ngày 27 tháng 8 năm 2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương
  • Ông Huỳnh Thanh Trà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 177/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-DS ngày 06/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1977, Địa chỉ: B L, quận C, thành phố Đà Nẵng; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Bà Hồ Thủy T, sinh năm 1978; Cùng địa chỉ: F đường B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Lê Văn P trình bày:

Tôi và bà Hồ Thủy T là chỗ anh em thân tình, quen biết với nhau từ lâu. Vào năm 2022 khi bà T gặp khó khăn về tài chính để trang trải, xử lý công việc cá nhân thì bà có hỏi mượn tôi; mặc dù tôi không có đủ số tiền cho bà T mượn nhưng vì nể nang là chỗ anh em quen biết với nhau từ nhỏ đến lớn nên tôi đã đi vay mượn để đưa tiền cho bà T mượn tổng số tiền các lần là 332.000.000 đồng, cụ thể từng lần như sau:

  • + Lần 1: Vào ngày 25/01/2022 bà T mượn tôi 187.000.000 đồng;
  • + Lần 2: Vào ngày 12/3/2022 bà T mượn tôi 145.000.000 đồng;

Tất cả các lần mượn tôi đều chuyển khoản vào tài khoản của bà T. Kể từ khi mượn tiền được thì bà T liên tục hứa hẹn trả nợ nhưng đến nay vẫn không trả lại số tiền trên cho tôi. Nay tôi khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thủy T phải thanh toán tiền nợ cho tôi là 332.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

* Tại Bản tự khai và Biên bản hòa giải, bà Hồ Thủy T có ý kiến như sau:

Trong năm 2022, do làm ăn khó khăn nên tôi có hỏi mượn ông P 02 lần tiền cụ thể:

  • - Ngày 25/01/2022 tôi mượn 187.000.000 đồng;
  • - Ngày 12/3/2022 tôi mượn 145.000.000 đồng.

Tổng số tiền tôi đã mượn ông P là 332.000.000 đồng. Do làm ăn khó khăn và hiện tại đang bị tạm giam nên tôi chưa thể trả tiền cho ông P. Tôi xin hẹn vào tháng 7/2025 tôi sẽ trả toàn bộ số tiền nợ gốc cho ông P và xin ông P giảm toàn bộ số tiền lãi cho tôi.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Đối với nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Hồ Thủy T phải trả cho ông Lê Văn P số tiền còn nợ 332.000.000₫ (Ba trăm ba mươi hai triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Lê Văn P và bị đơn bà Hồ Thủy T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.

[2] Về nội dung vụ án: Ông Lê Văn P cho bà Hồ Thủy T mượn 02 lần tiền với tổng số tiền 332.000.000 đồng; cụ thể ngày 25/01/2022 cho mượn 187.000.000 đồng, ngày 12/3/2022 cho mượn 145.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền cho mượn ông P đều chuyển khoản vào tài khoản của bà T. Bà T thừa nhận có mượn tiền của ông P nhưng do làm ăn khó khăn và hiện tại đang bị tạm giam nên chưa thể trả tiền trả cho ông T và hẹn đến tháng 7/2025 sẽ trả nợ cho P. Ông Lê Văn P yêu cầu bà Hồ Thủy T phải trả cho ông số tiền 332.000.000₫ (Ba trăm ba mươi hai triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Ông Lê Văn P cung cấp cho Tòa án 02 Lệnh báo nợ ngày 25/01/2022 và 12/3/2022 thể hiện ông P đã chuyển khoản cho bà T mượn tổng số tiền 332.000.000 đồng. Bà T cũng thừa nhận có mượn ông P số tiền 332.000.000 đồng. Kể từ thời điểm mượn tiền, ông P đã nhiều lần yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T vẫn không trả nên đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với ông P. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông P cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015.

Như vậy có đủ căn cứ để buộc bà Hồ Thủy T phải trả cho ông Lê Văn P số tiền 332.000.000đ (Ba trăm ba mươi hai triệu đồng).

[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – bà Hồ Thủy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 332.000.000 đồng x 5% ~ 16.600.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 179, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P đối với bà Hồ Thủy T.
  2. Buộc bà Hồ Thủy T phải trả cho ông Lê Văn P số tiền 332.000.000₫ (Ba trăm ba mươi hai triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  3. Án phí và chi phí tố tụng khác:
  4. Án phí Dân sự sơ thẩm: 16.600.000đ (Mười sáu triệu sáu trăm ngàn đồng), bà Hồ Thủy T phải chịu.

    Hoàn trả cho ông Lê Văn P số tiền tạm ứng án phí 10.687.333đ (Mười triệu sáu trăm tám mươi bảy ngàn ba trăm ba mươi ba đồng) theo biên lai thu số 0000305 ngày 17/5/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 82/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger