Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM BÌNH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày 22 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Tám
  2. Ông Nguyễn Thành Luân

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1978 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Bùi Thị V (chết); vợ Nguyễn Thị Thanh N (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2003.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án. Ngày 25/05/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 06/01/2022.

Nhân thân: Ngày 26/3/2003 bị Ủy ban nhân dân tỉnh V quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời gian 24 tháng theo Quyết định số 775/QĐ.UB. Ngày 16/12/2005 bị Ủy ban nhân dân tỉnh V quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời gian 24 tháng theo Quyết định số 2896/QĐ.UBND-NC.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 18/12/2023 trả tự do, sau đó bị bắt tạm giam từ ngày 09/3/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

2

Bị hại: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

Người làm chứng: Anh Lê Phước T2, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2023, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh V kết hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Công an xã N tiến hành kiểm tra bắt quả tang điểm đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền tại nhà C, sinh năm 1980 ngụ ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Trong lúc kiểm tra thì phát hiện bên trong nón bảo hiểm màu xám của Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1978 ngụ ấp Đ, xã N đang mang theo để trên bàn có 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tang vật thu giữ gồm:

  • 01 bịch nylon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, được phát hiện bên trong nón bảo hiểm màu xám của P mang theo để trên bàn (niêm phong đánh số 1).
  • 01 nón bảo hiểm màu xám.
  • 01 nón kết màu đen có dòng chữ VERSACE.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Hoàng P thuộc ấp Đ, xã N thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (bình bằng nhựa trong suốt, giữa thân bình có quấn băng keo màu đen, có nắp nhựa màu trắng, trên nắp nhựa có gắn ống nhựa (ống hút) màu hồng, màu vàng và 01 co thuỷ tinh, bên trong bình rỗng).

Qua làm việc, Nguyễn Hoàng P khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2023, sau khi đi đám về đến nhà thuộc ấp Đ, xã N thì gặp Lê Phước T2 là bạn của P đang ở nhà và sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của P. T2 kêu P cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T2 thì P đồng ý. Sau khi sử dụng ma túy xong thì T2 rủ P đi chơi đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền tại ấp N, xã N Khi đi P có mượn và đội nón bảo hiểm màu xám của T2. Đến điểm đánh bạc thì P và T2 tham gia chơi đánh bạc được khoảng 30 phút thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang. Khi lực lượng Công an kiểm tra thì T2 bỏ chạy thoát. Bịch ma túy mà Công an thu giữ trong nón bảo hiểm là của T2. P không biết bên trong nón bảo hiểm có tàng trữ trái phép chất ma túy. P không có hùn tiền mua ma túy với T2 để sử dụng, ma túy là của T2, P chỉ cho T2 mượn nhà làm điểm để T2 và P sử dụng trái phép chất ma túy chung với nhau được 03

3

lần. Cụ thể: Lần thứ nhất vào ngày 20/11/2023, lần thứ hai vào ngày 09/12/2023 và lần thứ ba là ngày 15/12/2023. Trong 03 lần sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của P thì P đều đồng ý để T2 và P sử dụng trái phép chất ma túy. T2 không cần phải hỏi ý kiến của P và P cũng không có thu lợi gì đối với T2. Mục đích của P cho T2 mượn nhà làm điểm để T2 sử dụng trái phép chất ma túy là để P được sử dụng trái phép chất ma túy chung với T2.

Tại Kết luận giám định số 892/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận:

Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được niêm phong trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1000 gam, loại Methamphetamine.

Ngày 29/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Hoàng P, về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn xác định được: Do có ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 22 giờ ngày 01/01/2024, P đi bộ từ nhà đến khu vực vườn rẫy của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965 thuộc ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì phát hiện 01 máy bơm nước nhãn hiệu Senda, loại 5.5 HP, đã qua sử dụng của ông T1 không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm. P lén lút dùng chìa khóa số 13 và kiềm đã chuẩn bị từ trước để mở ốc khóa lấy trộm máy bơm nước đem cất giấu cặp mé sông gần nhà ông T1 rồi đi về nhà ngủ. Đến khoảng 18 giờ ngày 02/01/2024, P đi bộ đến nhà của ông Sáu N1 ở ấp N, xã N thì gặp Trần Văn K, sinh năm 2009, P hỏi mượn xe đạp của K để đi đến nơi cất giấu máy bơm nước trộm được của ông T1 mang đi bán. Khi đang trên đường chở máy bơm nước đi bán thì bị lực lượng Công an xã N đang tuần tra phát hiện bắt giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL.ĐGTS ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 máy bơm nước hiệu Senda, loại 5,5HP, đã qua sử dụng có giá bình quân thị trường là 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng).

Qua xác minh, Nguyễn Hoàng P có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên ngày 05/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng P, về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Ngày 30/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định nhập vụ án hình sự để điều tra theo thủ tục chung.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Đối với: 01 phong bì niêm phong số 892/1, bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định là 0,0414 gam và vỏ bao gói;

4

01 nón bảo hiểm màu xám; 01 nón kết màu đen có dòng chữ VERSACE và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã được giải quyết và xử lý trong vụ án Lê Phước T2 bị khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại: 01 máy bơm nước nhãn hiệu Senda, loại 5.5 HP cho bị hại Nguyễn Văn T1 nhận xong.

Riêng đối với chìa khóa số 13 và cây kiềm mà bị can P dùng để mở ốc khoá lấy trộm máy bơm nước thì bị cáo P đã ném bỏ mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ được.

Phần dân sự: Ông Nguyễn Văn T1 đã nhận lại 01 máy bơm nước nhãn hiệu Senda, loại 5.5 HP bị mất trộm, ông T1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 70/CT-VKSTB ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng P thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.

Đối với hành vi đánh bạc trái phép của Nguyễn Hoàng P, do bị cáo chưa có tiền án, tiền sự liên quan về hành vi đánh bạc, số tiền dùng để đánh bạc chưa đủ định lượng xử lý hình sự nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng P với số tiền là 1.500.000 đồng là có căn cứ.

Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Lê Phước T2, ngày 04/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khởi tố điều tra xử lý riêng.

Đối với Trần Văn K có cho bị cáo P mượn xe đạp nhưng K không biết hành vi Trộm cắp tài sản của bị cáo P nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cặp xử lý đối với K là có cơ sở.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P về các tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 256; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P

5

phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P mức án từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội xử phạt bị cáo từ 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Trong khoảng thời gian từ ngày 20/11/2023 đến ngày 15/12/2023, Nguyễn Hoàng P đã 03 lần cho Lê Phước T2 mượn nhà của P tại ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long làm điểm để Lê Phước T2 sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine), nhằm mục đích để được T2 cho sử dụng trái phép chất ma túy chung với T2.

Ngoài ra, lúc 22 giờ ngày 01/01/2024 tại ấp Đ, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Hoàng P là người đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 máy bơm nước nhãn hiệu Senda, loại 5.5 HP có giá trị là 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) của ông Nguyễn Văn T1 nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng P đã phạm vào tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 của Bộ

6

luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo với thái độ thích thụ hưởng, lười lao động để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngoài ra, bị cáo biết hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật bị nhà nước cấm nhưng vẫn thực hiện, bị cáo chứa chấp việc sử dụng trái phép ma túy nhiều lần, đây là tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự như luận tội của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo cai nghiện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[2.3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy khi chưa được xóa tích (Bản án số 19/2021/HS – ST, ngày 25/05/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản) nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội Trộm cắp tài sản.

[2.4] Về tổng hợp hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.

[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 256; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

7

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

2.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 (Một) năm tù.

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” với hình phạt 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P chấp hành hình phạt chung là 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2024, khấu trừ thời gian bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 18/12/2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long
  • - VKSND huyện Tam Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Bình;
  • - CQĐT Công an huyện Tam Bình;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - UBND xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về vụ án hình sự

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger