|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày 17-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Trinh
Ông Trần Hải
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Vĩnh P;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 30/5/1990 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: 22 P, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn C (sinh năm 1968) và bà Trần Thị T (sinh năm 1970); Bị cáo chưa có vợ Nguyễn Thị Hải P1 (sinh năm 1992; đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2020; Gia đình có 02 anh em; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Chị Mai Thị Hoài V, sinh năm 1995; Địa chỉ: 5 đường L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2020 đến tháng 02 năm 2023, chị Mai Thị Hoài V nhiều lần đặt mua mỹ phẩm từ Nguyễn Văn Vĩnh P về bán lại. Tháng 02 năm 2023, chị V liên hệ P đặt mua 200 tuýp kem chống nắng La Roche Posay loại 50ml, đơn giá 346.000 đồng/tuýp, tổng giá trị đơn hàng là 69.200.000 đồng. Do cần tiền trả nợ nên P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên. Ngày 20.02.2023, P giả vờ đồng ý bán và yêu cầu chị V chuyển trước tiền hàng, chị V tưởng thật nên đã chuyển 69.200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T6 số 19032495144011 mang tên Nguyễn Văn Vĩnh P. P đã lấy toàn bộ số tiền này trả nợ và tiêu xài cá nhân. Sau đó, nhiều lần chị V đòi tiền thì P giả vờ hứa hẹn rồi cắt liên lạc, bỏ đi khỏi nơi cư trú. Ngày 20.11.2023, chị V gửi đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an quận H.
Vật chứng thu giữ:
- 02 tờ giấy A4 ghi lại tin nhắn zalo giữa P và chị V về việc P yêu cầu chị V chuyển tiền để lấy hàng;
- 05 tờ giấy A4 sao kê tài khoản ngân hàng T6 số 19032495144011 mang tên Nguyễn Văn Vĩnh P từ ngày 18.02.2023 đến ngày 28.02.2023 thể hiện việc P nhận 69.200.000 đồng từ chị V;
- Sao kê chi tiết giao dịch tài khoản ngân hàng V2 101868123327 của chị Mai Thị Hoài V trong ngày 20.02.2023 thể hiện việc chị V chuyển 69.200.000 đồng cho P.
Xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- 02 tờ giấy A4 ghi lại tin nhắn zalo giữa P và chị V;
- 05 tờ giấy A4 sao kê tài khoản ngân hàng T6 số 19032495144011 mang tên Nguyễn Văn Vĩnh P từ ngày 18.02.2023 đến ngày 28.02.2023;
- Sao kê chi tiết giao dịch tài khoản ngân hàng V2 101868123327 của chị Mai Thị Hoài V trong ngày 20.02.2023.
Về dân sự: Nguyễn Văn Vĩnh P đã bồi thường cho bị hại Mai Thị Hoài V 69.500.000 đồng, chị V không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho P.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Vĩnh P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Việc khai nhận của P phù hợp lời khai của bị hại Mai Thị Hoài V; vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh P mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- 02 tờ giấy A4 ghi lại tin nhắn zalo giữa P và chị V;
- 05 tờ giấy A4 sao kê tài khoản ngân hàng T6 số 19032495144011 mang tên Nguyễn Văn Vĩnh P từ ngày 18.02.2023 đến ngày 28.02.2023;
- Sao kê chi tiết giao dịch tài khoản ngân hàng V2 101868123327 của chị Mai Thị Hoài V trong ngày 20.02.2023.
Về dân sự: Nguyễn Văn Vĩnh P đã bồi thường cho bị hại Mai Thị Hoài V 69.500.000 đồng, chị V không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho P.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Tháng 02 năm 2023, chị Mai Thị Hoài V liên hệ Nguyễn Văn Vĩnh P đặt mua 200 tuýp kem chống nắng La Roche Posay loại 50ml, đơn giá 346.000 đồng/tuýp, tổng giá trị đơn hàng là 69.200.000 đồng. Do cần tiền trả nợ nên ngày 20.02.2023, P giả vờ đồng ý bán và yêu cầu chị V chuyển trước tiền hàng. Tưởng thật nên khoảng 11 giờ 10 phút ngày 20.02.2023, tại quán cà phê trên đường B, quận H, thành phố Đà Nẵng, chị V đã chuyển 69.200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T6 số 19032495144011 của P. P đã lấy toàn bộ số tiền này trả nợ và tiêu xài cá nhân. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 69.200.000 đồng thuộc trường hợp định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 52/CT-VKSHC ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh P là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người trưởng thành, là thanh niên có sức khỏe, đang trong độ tuổi lao động, đáng lẽ ra bị cáo phải ý thức được mình nên làm những gì để có ích cho gia đình. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt nhưng không tiếp tục là công dân có ích mà lại đi vào con đường phạm tội dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác tổng trị giá 69.200.000 đồng. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần phải quyết định một mức hình phạt nghiêm khắc mới tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ khi lượng hình cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- 02 tờ giấy A4 ghi lại tin nhắn zalo giữa P và chị V;
- 05 tờ giấy A4 sao kê tài khoản ngân hàng T6 số 19032495144011 mang tên Nguyễn Văn Vĩnh P từ ngày 18.02.2023 đến ngày 28.02.2023;
- Sao kê chi tiết giao dịch tài khoản ngân hàng V2 101868123327 của chị Mai Thị Hoài V trong ngày 20.02.2023.
[7] Về dân sự: Người bị hại chị Mai Thị Hoài V đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt 69.500.000 đồng, chị V không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh P phải chịu 200.000đ.
[9] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
II. Về xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- 02 tờ giấy A4 ghi lại tin nhắn zalo giữa P và chị V;
- 05 tờ giấy A4 sao kê tài khoản ngân hàng T6 số 19032495144011 mang tên Nguyễn Văn Vĩnh P từ ngày 18.02.2023 đến ngày 28.02.2023;
- Sao kê chi tiết giao dịch tài khoản ngân hàng V2 101868123327 của chị Mai Thị Hoài V trong ngày 20.02.2023.
III. Án phí HSST:
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí HSST bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh P phải chịu 200.000đồng.
IV. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
