Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HS-ST

Ngày 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Văn Siêng

Bà Thạch Kim Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ý Nhi– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 83/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với:

Bị cáo Kim C, sinh ngày 01/01/1972, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở trước khi bị khởi tố ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ (chỉ biết ký tên); dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Kim V (đã chết) và bà Kim Thị S (đã chết), bị cáo có vợ tên Kim Thị S1, sinh năm 1972 có 01 người con tên Kim C1, sinh năm 2006 và sống chung như vợ chồng với bà Giang Thị T, sinh ngày 02/02/1980; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt truy nã vào ngày 16/7/2024, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 19/7/2024 cho đến nay (trong vụ án khác), có mặt.

- Bị hại:

Bà Sơn Thị N, sinh năm 1955. Nơi cư trú ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Kim Bô N1, sinh năm 1977. Nơi cư trú ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

Chị Thạch Thị Linh Đ, sinh năm 2008. Nơi cư trú ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Thạch L, sinh năm 1983. Nơi cư trú ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Ông Kim L1, sinh năm 1981. Nơi cư trú ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại T: Ông Diệp Minh T1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T, vắng mặt (có gửi luận cứ bảo vệ).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Thạch Thị Linh Đ: Bà Thạch Thị Pho L2, sinh năm 1977. Nơi cư trú ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Thạch Thị Sô R, sinh năm 1961. Nơi cư trú ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

- Người làm chứng:

Bà Giang Thị T, sinh năm 1980. Nơi cư trú ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 22/3/2024, do không có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Kim C nảy sinh ý định đi tìm xe mô tô hoặc xe đạp của người khác để lấy trộm, bị cáo thuê xe ôm đi từ nhà bị cáo thuộc ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh đến khu vực ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh rồi đi bộ dọc theo đường nhựa nông thôn. Khi bị cáo Kim C đến trước nhà bà Sơn Thị N thì phát hiện 01 chiếc xe đạp, nhãn hiệu Martin, màu trắng có gắn gỗ nhựa phía trước, đã qua sử dụng của bà N dựng dựa vào hàng rào bên ngoài nhà bà N không có ai quản lý nên bị cáo đã lén lút lấy trộm xe đạp trên rồi điều khiển theo đường nhựa về hướng xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Khi đến khu vực ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh bị cáo Kim C nhìn thấy một ngôi nhà đã đóng kín cửa, bên hông nhà có dựng 01 xe mô tô hai bánh, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 84G1-051.45, đã qua sử dụng của ông Kim Bô N1 có gắn chìa khóa trên xe, không ai trông coi, quản lý nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên. Lúc này, bị cáo Kim C dựng chiếc xe đạp vừa trộm được của bà Ngươne c hàng rào phía trước nhà ông Bô N1 rồi lén lút đi vào lấy trộm xe mô tô, dẫn ra đường đanl, sau đó bị cáo Kim C nổ máy điều khiển về hướng xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh để tìm chỗ bán. Riêng chiếc xe đạp nêu trên thì bị cáo Kim C bỏ lại tại hàng rào nhà ông Bô Na.

Khi bị cáo điều khiển xe đến đoạn đường nhựa cặp bờ kênh thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị cáo nhìn thấy có 01 chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu SONSU, số khung: E2022000393, số động cơ: SS48V2207021565, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng của bà Thạch Thị Linh Đ đang sạc pin bên hong nhà, có gắn chìa khóa trên xe, không có ai trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm. Lúc này, bị cáo Kim C dựng xe mô tô (xe mà bị cáo trộm cắp được của ông Bô N1) trước nhà bà Linh Đ rồi lén lút đi vào lấy trộm chiếc xe đạp điện kèm theo cục sạc và dây sạc pin. Sau khi trộm được xe, bị cáo Kim C điều khiển về nhà bị cáo rồi bán xe đạp điện vừa trộm được cho bà Thạch Thị Sô R với số tiền là 3.900.000 đồng, số tiền này bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.

Riêng xe mô tô nêu trên, bị cáo Kim C bỏ lại tại khu vực trước nhà bà Linh Đ.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS, ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu SONSU, số khung: E2022000393, số động cơ: SS48V2207021565, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 22/3/2024 có giá là 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Tại thời điểm ngày 22/3/2024: 01 (Một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu Martin, màu trắng có gắn gỗ nhựa phía trước, đã qua sử dụng có giá là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; 01 (một) xe mô tô hai bánh, màu sơn đỏ đen, nhãn hiệu WARM, số loại C110-1, số khung: VDP1P52FMH307113, số máy: RMMWCH3MM51307113, biển kiểm soát: 84G1-051.45, đã qua sử dụng có giá là 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng.

Qua trình điều tra, bị cáo Kim C còn khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại những nơi khác, cụ thể:

Vào khoảng 13 giờ ngày 24/3/2024, bị cáo Kim C nảy sinh ý định tìm xe mô tô hoặc xe đạp điện của người khác để trộm bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, bị cáo Kim C điều khiển xe đạp màu trắng do bị cáo mượn của một người đàn ông tên gọi là “Chèo” địa chỉ tại xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh đến khu vực ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Trên đường đi bị cáo Kim C nhìn thấy 01 xe mô tô hai bánh, màu sơn xanh, không rõ nhãn hiệu, biển kiểm soát: 62T1-4764, đã qua sử dụng, có gắn chìa khóa trên xe của ông Kim L1 dựng trước nhà ông L1, không có người trông coi quản lý nên bị cáo để chiếc xe đạp lại trên đường đanl rồi lén lút vào lấy trộm chiếc xe mô tô trên điều khiển về hướng huyện C, tỉnh Trà Vinh tìm chỗ bán. Khi bị cáo Kim C đang điều khiển xe mô tô đến khu vực ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì nhìn thấy phía sau nhà chứa rơm của ông Thạch L có dựng 01 chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu CLASSIC, số khung: 210400062, số động cơ: 062202496, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng có gắn chìa khóa trên xe, không có ai trông coi, quản lý. Lúc này, bị cáo thấy rằng giá trị chiếc xe đạp điện cao hơn giá trị chiếc xe mô tô vừa trộm được nên bị cáo Kim C dựng chiếc xe mô tô trên đường nhựa rồi lén lút đi bộ vào trộm chiếc xe đạp điện, điều khiển về hướng xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Khi bị cáo đi ngang tiệm cầm đồ H, thuộc ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh do ông Nguyễn Tấn L3, sinh năm 1986, nơi thường trú và nơi ở ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh làm chủ, bị cáo đã vào cầm xe đạp điện vừa trộm được với số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng, số tiền này bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Riêng xe mô tô nêu trên, bị cáo Kim C bỏ lại tại khu vực đường nhựa trước nhà ông Thạch L.

Đến ngày 25/3/2024, bị cáo Kim C lấy tiền bán xe đạp điện trộm được của bà Thạch Thị Linh Đ (bị cáo bán được cho bà S2 Rít giá 3.900.000 đồng trước đó) đến tiệm cầm đồ Hải H chuộc lại chiếc xe đạp điện trộm được của ông Thạch L đã cầm vào ngày 24/3/2024, gồm cả tiền lãi là 1.650.000 (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng. Sau khi chuộc xe xong, bị cáo Kim C điều khiển đến khu vực khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị lực lượng Công an mời làm việc. Tại Cơ quan Công an, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL.HĐĐG, ngày 13 tháng 5 năm

2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Tại thời điểm ngày 24/3/2024: 01 (Một) một chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu CLASSIC, số khung: 210400062, số động cơ: 062202496, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng có giá là 4.905.000 đồng (Bốn triệu chín trăm lẻ năm nghìn đồng).

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Tại thời điểm ngày 24/3/2024: 01 (Một) chiếc xe mô tô hai bánh, màu sơn xanh, không rõ nhãn hiệu, số loại, số khung: JCXCHLS0503195, không có số máy, biển kiểm soát: 62T1-4764 có giá là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng.

Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 24/3/2024 tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Xét thấy, bị cáo phạm tội nhiều lần nên vào ngày 05/7/2024, Viện kiểm sát Nhân dân huyện Cầu Ngang căn cứ khoản 1, Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ra Quyết định chuyển vụ án hình sự nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để tiến hành điều tra theo thẩm quyền. Ngày 09/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định nhập vụ án hình sự nêu trên thành vụ án hình sự: Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 22/3/2024 tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh và xảy ra ngày 24/3/2024 tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Như vậy, trong vụ án này, bị cáo Kim C đã nhiều lần trộm cắp tài sản của người khác trong ngày 22/3/2024 (bị cáo thực hiện liên tục 03 vụ, việc); ngày 24/3/2024 (bị cáo thực hiện liên tục 02 vụ), gây thiệt hại tổng cộng 15.705.000 (Mười lăm triệu bảy trăm lẻ năm nghìn) đồng.

Bên cạnh đó, bị cáo Kim C còn khai nhận bản thân còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác tại địa bàn huyện T và huyện D, tỉnh Trà Vinh, cụ thể như sau:

* Tại huyện T, tỉnh Trà Vinh:

- Khoảng 09 giờ một ngày trong tháng 3 năm 2024 (Chưa xác định được ngày cụ thể), bị cáo Kim C điều khiển xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Wave màu đỏ của bà Giang Thị T, là người chung sống như vợ chồng với bị cáo tại ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh một mình đến khu vực xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh để tìm xe trộm. Trên đường đi, bị cáo thấy trước cửa một ngôi nhà có dựng một chiếc xe đạp điện màu đỏ có sẵn chìa khóa trên xe, xung quanh không ai trông coi nên đã lén lút đi vào trộm cắp xe đạp điện để lên phía sau xe mô tô và điều khiển về khu vực xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh tìm chỗ bán. Khi đến khu vực ấp K, xã T thì bị cáo bán chiếc xe đạp điện vừa trộm được cho một cửa hàng thu mua xe cũ với số tiền là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng, sau đó bị cáo đã tiêu xài hết số tiền trên.

- Đến khoảng hơn 09 giờ, ngày 23/3/2024, bị cáo tiếp tục điều khiển xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Wave màu đỏ nêu trên một mình đến khu vực xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh để tìm xe trộm. Trên đường đi bị cáo thấy trong nhà sau của một ngôi nhà có dựng xe đạp điện màu xanh, không thấy ai trông coi nên bị cáo dựng xe mô tô gần đó và lén lút đi vào, thấy có sẵn chìa khóa trên xe, bị cáo nhanh chóng lấy trộm rồi điều khiển về hướng huyện T. Tuy nhiên, đi được một đoạn thì bị người dân khu vực xung quanh phát hiện, bị cáo liền bỏ xe đạp điện và xe mô tô lại rồi chạy bộ về nhà bị cáo.

* Tại huyện D, tỉnh Trà Vinh: Vào khoảng 09 giờ một ngày trong tháng 3 năm 2024 (Chưa xác định được ngày cụ thể), do không có tiền tiêu xài nên bị cáo thuê xe ôm đi đến khu vực xã N huyện D để tìm xe trộm. Khi đến nơi bị cáo đi bộ một mình quanh khu vực chợ N3, một lúc sau bị cáo thấy phía trước hàng ba của một ngôi nhà gần trường học có dựng ba chiếc xe đạp điện nhưng không thấy ai trông coi nên đã lén lút vào xem, bị cáo phát hiện trong đó có một chiếc xe đạp điện màu đỏ có gắn sẵn chìa khóa trên xe. Lúc này, bị cáo lén lút lấy trộm rồi điều khiển về hướng thị trấn T tìm chỗ bán. Khi đến khu vực chợ T2, bị cáo bán chiếc xe đạp điện vừa trộm được cho một người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ với số tiền là 2.000.000 (Hai triệu) đồng nhưng người này chỉ trả cho bị cáo số tiền 1.500.000 đồng và nợ lại 500.000 đồng.

Đối với các vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại huyện T và huyện D nêu trên. Ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có công văn thông báo và đề nghị kiểm tra, xác minh theo thẩm quyền.

* Về việc tạm giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và huyện C đã tạm giữ các tài sản, đồ vật, tài liệu như sau:

  • 01 (Một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu Martin, màu trắng có gắn gỗ nhựa phía trước, đã qua sử dụng từ ông Kim Bô Na .1
  • 01 (Một) xe mô tô hai bánh, màu sơn đỏ đen, nhãn hiệu WARM, số loại C110-1, số khung: VDP1P52FMH307113, số máy: RMMWCH3MM51307113, biển kiểm soát: 84G1-051.45, đã qua sử dụng từ bà Thạch Thị Pho L2, sinh ngày 01/01/1977, nơi thường trú ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  • 01 (Một) chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu SONSU, số khung: E2022000393, số động cơ: SS48V2207021565, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng từ bà Thạch Thị Sô R, sinh ngày 01/01/1961, nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  • 01 (Một) chiếc xe mô tô hai bánh, màu sơn xanh, không rõ nhãn hiệu, số loại, số khung: JCXCHLS0503195, không có số máy, biển kiểm soát: 62T1-4764, đã qua sử dụng từ ông Thạch Văn N2, sinh ngày 01/01/1963, nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  • 01 (Một) chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu CLASSIC, số khung: 210400062, số động cơ: 062202496, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng từ bị cáo Kim C.

- Đến ngày 24/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu: Bằng hình thức trao trả 01 (Một) chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu CLASSIC nêu trên cho ông Thạch L nhận lại để quản lý.

- Đến ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trao trả lại tài sản bị mất trộm cho các chủ sở hữu nhận lại để quản lý.

- Đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Kim C trên địa bàn huyện D và huyện T, tỉnh Trà Vinh. Vào ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Công văn thông báo và đề nghị kiểm tra, xác minh theo thẩm quyền. Quá

trình điều tra đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và huyện T đã có Công văn phúc đáp do còn phải xác minh thêm một số tình tiết có liên quan nên không kịp làm thủ tục nhập vụ án hình sự, do đó sẽ tiến hành điều tra, xử lý bằng vụ án độc lập.

- Đối với bà Giang Thị T là người chung sống như vợ chồng với bị cáo Kim C tại ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh, việc bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bà T hoàn toàn không biết, do đó không có cơ sở xử lý đối với bà T.

- Đối với người đàn ông tên “Chèo” cho bị cáo mượn xe đạp màu trắng vào ngày 24/3/2024, bị cáo Kim C khai nhận đã đến hiện trường lấy lại xe đạp và trả lại cho ông “Chèo” xong. Tuy nhiên, do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, chỉ biết sống ở xã K, do đó Cơ quan điều tra không tiến hành mời ông “Chèo” làm việc được.

- Đối với bà Thạch Thị Sô R là người mua chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu SONSU từ bị cáo Kim C, bà Sô R không biết chiếc xe đạp điện này là tài sản do trộm cắp có được nên không có cơ sở để xem xét xử lý đối với bà Sô R.

- Đối với người chạy xe Honda ôm chở bị cáo Kim C từ ấp B Dơi B, xã K đến xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị cáo không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, do đó Cơ quan điều tra không tiến hành mời làm việc được.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS-HS, ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Kim C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Kim C có lời khai thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại vào ngày 22/3/2024 và ngày 24/3/2024 đúng như cáo trạng truy tố, nhưng diễn biến cụ thể từng vụ thì bị cáo không nhớ rõ do thời gian đã lâu và gần đây bị cáo bị bệnh nên trí nhớ bị giảm. Đối với các kết luận định giá tài sản thì bị cáo đồng ý, bị cáo không thay đổi lời khai.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã thu hồi tài sản trả lại cho các bị hại xong, các bị hại không yêu cầu bị cáo Kim C phải bồi thường thiệt hại gì thêm. Riêng bà Thạch Thị Sô R có yêu cầu bị cáo Kim C trả lại số tiền mua xe đạp điện 3.900.000 đồng và bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Kim Chính phạm t “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Kim C từ 01 năm đến 02 năm tù. Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 01 (một) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST, ngày 10/8/2024 của bị Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Buộc bị cáo Kim C phải chấp hành hình phạt chung từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã thu hồi tài sản trả lại cho bị hại xong. Các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Đối với bà Thạch Thị Sô R yêu

cầu bị cáo Kim C trả lại số 3.900.000 đồng, bị cáo Kim C đồng ý bồi thường. Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.

Về vật chứng đã xử lý xong. Về án phí đề nghị buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Thạch L là ông Diệp Minh T1 vắng mặt có gửi luận cứ bảo vệ cho bị hại, đề nghị xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Về dân sự bị hại Thạch L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo không tự bào chữa và nói lời sau cùng: Bị cáo biết lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ xác định ngày 22/3/2024 và ngày 24/3/2024, bị cáo Kim C đã nhiều lần lén lút trộm cắp tài sản của người khác, gây thiệt hại tổng cộng bằng 15.705.000 đồng (Mười lăm triệu bảy trăm lẻ năm nghìn đồng). Cụ thể vào ngày 22/3/2024, bị cáo Kim C trộm cắp tài sản 03 vụ liên tiếp, gây thiệt hại cho bà Thạch Thị Linh Đ 4.500.000 đồng, ông Kim Bô N1 số tiền 3.500.000 đồng và bà Sơn Thị N số tiền 300.000 đồng; Vào ngày 24/3/2024, bị cáo Kim C đã lén lút trộm cắp tài sản 02 vụ liên tiếp, gây thiệt hại cho ông Kim L1 số tiền 2.500.000 đồng, ông Thạch L số tiền 4.905.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Kim C là phù hợp với các hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại các hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và vật chứng là các tài sản bị cáo Kim C chiếm đoạt được thu giữ hoàn trả lại cho các bị hại.

[2] Hành vi của bị cáo Kim C đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Kim C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Bị cáo Kim C thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS, ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (một) chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu SONSU, số khung: E2022000393, số động cơ: SS48V2207021565, màu sơn đỏ đen, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 22/3/2024 có giá là 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn) đồng. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Tại thời điểm ngày 22/3/2024: 01 (Một) chiếc xe đạp, nhãn hiệu Martin, màu trắng có gắn gỗ nhựa phía trước, đã qua sử dụng có giá là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; 01 (một) xe mô tô hai bánh, màu sơn đỏ đen, nhãn hiệu WARM, biển kiểm soát: 84G1-051.45, đã qua sử dụng có giá là 3.500.000 (Ba triệu năm trăm nghìn) đồng. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 10/KL.HĐĐG, ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Tại thời điểm ngày 24/3/2024: 01 (Một) một chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu CLASSIC, số

khung: 210400062, số động cơ: 062202496, màu sơn đỏ, đã qua sử dụng có giá là 4.905.000 đồng (Bốn triệu chín trăm lẻ năm nghìn đồng). Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Tại thời điểm ngày 24/3/2024: 01 (Một) chiếc xe mô tô hai bánh, màu sơn xanh, không rõ nhãn hiệu, số loại, số khung: JCXCHLS0503195, không có số máy, biển kiểm soát 62T1-4764 có giá là 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng.

[3] Trong 02 ngày 22/3/2024 và ngày 24/3/2024 bị cáo đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại, trong đó có 04 lần mỗi lần giá trị tài sản đều trên 2.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 75/CT-VKS-HS, ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Kim C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hìnhnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hìnhsự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[4] Tội phạm bị cáo Kim C thực hiện là ít nghiêm trọng, nhưng trong quá trình điều tra thì bị cáo đã bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, hành vi của bị cáo là thể hiện bị cáo xem thường sự nghiêm minh của pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tương tự. Theo bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST, ngày 10/8/2024, bị cáo Kim C bị Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh kết án 01 (một) năm tù về tội trộm cắp tài sản (hành vi trộm cắp bản án này sau ngày 22/3/2024 và ngày 24/3/2024), căn cứ Điều 56 Bộ luật Hìnhnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt nhiều bản án.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự thú, tài sản trộm cắp được thu hồi trả lại cho các bị hại, bị cáo là người dân tộc Khmer, không biết chữ nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, bị hại Kim Bô N1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Thạch Thị Linh Đ, Sơn Thị N, Kim Bô N1, Kim L1 và Thạch L đã nhận lại được tài sản bị lấy trộm, các bị hại không yêu cầu bị cáo Kim C phải khắc phục hoặc bồi thường thiệt hại gì nên không xem xét. Đối với bà Thạch Thị Sô R yêu cầu bị cáo Kim C trả lại số tiền mua xe đạp điện 3.900.000 (Ba triệu chín trăm nghìn) đồng, bị cáo Kim C đồng ý. Căn cứ các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015, công nhận sự tự nguyện của bị cáo Kim C đồng ý bồi thường cho bà S2 Rít số tiền nói trên.

[7] Về vật chứng: Đã xử lý xong giai đoạn điều tra.

[8] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí có giá ngạch 5% phần bồi thường thiệt hại cho bà Sô R.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Kim Chính phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Kim C 01 (một) năm tù.

Căn cứ vào Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của bản án này với hình phạt 01 (một) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HS-ST, ngày 10/8/2024 của bị Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Buộc bị cáo Kim C phải chấp hành hình phạt chung 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2024.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Kim C đồng ý bồi thường cho bà Thạch Thị Sô R 3.900.000 (Ba triệu chín trăm nghìn) đồng.

Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Việc xử lý vật chứng: Đã xử lý xong

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Kim C và bị hại ông Kim Bô N1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Thạch Thị Sô R có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các bị hại còn lại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thihành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - Trợ giúp viên pháp lý;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Văn Siêng Thạch Kim Hạnh

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 82/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kim Chính trộm cắp tài sản vụ thứ 2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger