TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HS-ST
Ngày: 20 – 6 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường – Bà Trần Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Hoàng A, sinh năm 1981, tại quận T, thành phố Cần Thơ. Nơi đăng ký cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Nơi ở hiện nay: số D, T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị P. Tiền án: không. Tiền sự: không. Bị tạm giam từ ngày 15/11/2023 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt
- Bị hại: Công ty Cổ phần T2. Vắng mặt
Địa chỉ: khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Văn Đ, sinh năm 1946. Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- Trần Quang G, sinh năm 1981. Nơi cư trú: khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
- Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: số 582/30, T, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt
- Lâm Quang H, sinh năm 1987. Nơi cư trú: số 50, H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt
- Lý Ngọc D, sinh năm 1987. Nơi cư trú: số C, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt
- Nguyễn Đức E, sinh năm 1990. Nơi cư trú: tổ B, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Văng mặt
- Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
- Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1967. Nơi cư trú: số D, tổ A, ấp C, phường C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
- Lê Nguyễn Minh K, sinh năm 1989. Nơi cư trú: số C, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hoàng A là nhân viên kinh doanh bán hàng tại cửa hàng C – Công ty Cổ phần T2 (Công ty T2), số C đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, với nhiệm vụ chào bán hàng cho các cửa hàng vật liệu xây dựng và khách hàng trên địa bàn tỉnh An Giang.
Do cần tiền kinh doanh bên ngoài, trả nợ và tiêu xài, nên Hoàng A nảy sinh ý định thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của Công ty T2 bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, Hoàng A sử dụng thông tin giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hình ảnh bảng hiệu cửa hàng vật liệu xây dựng M (cửa hàng M1), địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, do Nguyễn Đức E đứng tên giấy chứng nhận để tự đăng ký, tự tạo mã code khách hàng của cửa hàng M1 là LC_107. Sau đó, từ ngày 02 tháng 12 năm 2022 đến ngày 19 tháng 12 năm 2022, Hoàng A nhiều lần gian dối tự sử dụng mã code cửa hàng Minh S là LC_107 tự ghi phiếu 08 đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua hàng của Công ty T2. Sau khi, Công ty T2 nhận đơn hàng, Hoàng A ghi phiếu xuất cho cửa hàng M1, nhưng báo thông tin cửa hàng M1 yêu cầu giao hộ cho các khách hàng khác; xong Hoàng A nhận tiền của các khách hàng mà Hoàng A tự lấy mà mã khách hàng cửa hàng M1 đặt hàng đem bán lại từ lái xe của Công ty T2 nhận trực tiếp giao lại hoặc khách hàng chuyển khoản cho Hoàng A, nhưng không giao tiền cho Công ty T2, chiếm đoạt tài sản của Công ty T2. Cụ thể như sau:
- Ngày 02 tháng 12 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua 03 bộ bồn nước Inox + chân bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ -1150, dung tích 2000L, kiểu ngang, giá trị theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000709 ngày 02 tháng 12 năm 2022 là 23.820.000 đồng. Hoàng A yêu cầu tài xế giao cho Nguyễn Thị Tuyết M và tự ý chiết khấu 1.800.000 đồng, nhận 22.020.000 đồng chiếm đoạt không trả tiền Công ty T2.
- Ngày 30 tháng 11 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua 05 bộ bồn nước Inox + chân bồn, nhãn hiệu Toàn Mỹ - 950, dung tích 1000L kiểu ngang; 02 bộ bồn nước Inox + chân bồn, nhãn hiệu Toàn Mỹ - 950, dung tích 1000L, kiểu đứng; 05 bộ bồn nước Inox + chân bồn, nhãn hiệu Toàn Mỹ - 745, dung tích 500L, kiểu ngang; 02 bộ bồn nước Inox + chân bồn, nhãn hiệu Toàn Mỹ - 1150, dung tích 310L, kiểu đứng; giá trị theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000714 ngày 05 tháng 12 năm 2022 là 47.965.000 đồng và yêu cầu giao hộ cho cửa hàng vật liệu xây dựng L do Lê Nguyễn Minh K đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hoàng A tự chiết khấu 5.580.000 đồng, nhận 42.376.000 đồng chiếm đoạt.
- Ngày 06 tháng 12 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua 02 bộ bồn nước Inox + chân bồn, nhãn hiệu Toàn Mỹ - 1150, dung tích 1500L, kiểu ngang, theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000720 ngày 06 tháng 12 năm 2022 là 12.800.000 đồng và yêu cầu giao hộ cho cửa hàng vật liệu xây dựng L do ông Lâm Quang H giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hoàng A tự ý chiết khấu 2.631.000 đồng, nhận 10.169.000 đồng chiếm đoạt.
- Ngày 08 tháng 12 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua 01 bộ máy năng lượng I304 + bộ chân + ống năng lượng bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ 160L, ống năng lượng phi 58-16 ống, theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000731 ngày 08 tháng 12 năm 2022 là 6.491.500 đồng và yêu cầu giao cho cửa hàng vật liệu xây dựng Ngọc D1 do Lý Ngọc D đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hoàng A tự ý chiết khấu 128.500 đồng, nhận 6.363.000 chiếm đoạt.
- Ngày 08 tháng 12 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng của cửa hàng M1 mua 02 bộ bồn nước Inox + chân bồn, nhãn hiệu Toàn Mỹ -745, dung tích 500L ngang, kiểu ngang theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000732 ngày 08 tháng 12 năm 2022 (đã trừ chiết khấu ưu đãi 809.364 đồng) là 4.729.700 đồng và 02 bộ bồn nhựa, nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco – 745, dung tích 500L, kiểu ngang, theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000733 ngày 08 tháng 12 năm 2022 là 2.980.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 02 hoá đơn là 7.709.700 đồng; yêu cầu giao cho cửa hàng vật liệu xây dựng B do Nguyễn Thị Hồng H1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nhận 8.600.000 đồng chiếm đoạt.
- Ngày 12 tháng 12 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua 03 cái bồn nước nhựa, nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco – 745, dung tích 500L, kiểu ngang; 02 cái bồn nước nhựa, nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco – 950, dung tích 1000L, kiểu ngang, theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000748 ngày 12 tháng 12 năm 2022 là 9.790.000 đồng; và 02 cái bồn nước nhựa nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco – 745, dung tích 500L, kiểu ngang trị giá 2.725.000 đồng. Tổng trị giá hàng hoá 12.515.000 đồng; yêu cầu giao hộ cho cửa hàng vật liệu xây dựng cho cửa hàng vật liệu xây dựng L do Lê Nguyễn Minh K đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hoàng A đã nhận 12.515.000 đồng, nhưng chỉ chuyển Công ty T2 2.544.000 đồng, còn lại chiếm đoạt.
- Ngày 14 tháng 12 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua 01 cái bồn nước nhựa nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco -1150, dung tích 1500L, kiểu đứng, theo hoá đơn giá trị gia tăng số 00000765 ngày 15 tháng 12 năm 2022 là 3.080.000 đồng và yêu cầu giao hàng cho cửa hàng vật liệu xây dựng T do bà Nguyễn Thị Huyền T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hoàng A tự ý chiết khấu 133.000 đồng, nhận 2.955.000 đồng chiếm đoạt.
- Ngày 19 tháng 12 năm 2022, Hoàng A làm đơn đặt hàng cửa hàng M1 mua 03 bộ bồn nước Inox + chân bồn, nhãn hiệu Toàn Mỹ -745, dung tích 500L, kiểu ngang và 01 bồn nhựa nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco-745, dung tích 500L, kiểu đứng, theo các hoá đơn giá trị gia tăng ngày 19 tháng 12 năm 2022 số 00000785 là 8.430.000 đồng và số 00000786 là 1.250.000 đồng và yêu cầu giao hàng cho cửa hàng vật liệu xây dựng B do do Nguyễn Thị Hồng H1 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nhận 9.680.000 đồng chiếm đoạt.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 121.600.000 đồng do Phạm Văn Đ (cha của Phạm Hoàng A) và Phạm Hoàng A tự nguyện giao nộp, đã trao trả cho Công ty T2 121.515.500 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 242/KL-HĐĐGTS ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L:
- + 03 bộ bồn nước Inox + chân bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ -1150, dung tích 2000L, kiểu ngang chưa qua sử dụng, mới 100%, trị giá 23.820.000 đồng.
- + 05 bộ bồn nước Inox + chân bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ -950, dung tích 1000L, kiểu ngang chưa qua sử dụng, trị giá 21.000.000 đồng.
- + 02 bộ bồn nước Inox + chân bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ -950, dung tích 1000L, kiểu đứng chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 7.960.000 đồng.
- + 10 bộ bồn nước Inox + chân bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ -750, dung tích 500L, kiểu ngang chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 28.100.000 đồng.
- + 02 bộ bồn nước Inox + chân bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ -745, dung tích 310L, kiểu đứng chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 4.146.000 đồng.
- + 02 bộ bồn nước Inox + chân bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ -1150, dung tích 1500L, kiểu ngang chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 12.800.000 đồng.
- + 01 bộ máy năng lượng I304 + bộ chân + ống năng lượng bồn nhãn hiệu Toàn Mỹ 160L, ống năng lượng phi 58-16 ống, chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 6.491.500 đồng.
- + 05 cái bồn nước nhựa nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco -745, dung tích 500L, kiểu ngang chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 7.450.000 đồng.
- + 02 cái bồn nước nhựa nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco -950, dung tích 1000L, kiểu ngang chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 5.418.000 đồng.
- + 01 cái bồn nước nhựa nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco -1150, dung tích 1500L, kiểu đứng chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 3.080.000 đồng.
- + 01 cái bồn nước nhựa nhãn hiệu Toàn Mỹ Eco -745, dung tích 500L, kiểu đứng chưa qua sử dụng, mới 100% trị giá 1.250.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 121.515.500 đồng.
- Trần Quang G, Đào Thị D2 trình bày: Hoàng A là nhân viên kinh doanh bán hàng tại khu vực thành phố L, tỉnh An Giang của Công ty T2. Hoàng A nhận bản giá, hình ảnh bồn nhựa, bồn inox, máy năng lượng mặt trời, máy lọc nước... chào hàng cho các đại lý, cửa hàng bán lẻ vật liệu xây dựng ở địa bàn tỉnh An Giang. Trong khoảng thời gian từ ngày 02 tháng 12 năm 2022 đến ngày 19 tháng 12 năm 2022, Hoàng A đã giả mạo mã code của cửa hàng M1 để đặt hàng rồi báo về kế toán chi nhánh tại An Giang để yêu cầu Tổng Công ty giao hàng chiếm đoạt của Công ty T2 tài sản tổng trị giá 121.515.500 đồng như nội dung vụ án.
- Nguyễn Hoàng K1 (Thủ kho Công ty T2 - Chi nhánh C) trình bày: Nhiệm vụ của K1 là nhận các đơn hàng của nhân viên kinh doanh. Hàng hoá xuất bán cho cửa hàng M1 do Hoàng A lên đơn hàng, K1 xuất theo yêu cầu của anh Hoàng A, đúng quy định. K1 không biết việc Hoàng A giả mạo mã code của cửa hàng M1 để đặt hàng, chiếm đoạt tiền của Công ty T2.
- Võ Phước L trình bày: Lành là lái xe, kiêm giao hàng của Công ty T2 - Chi nhánh C. Thời gian từ ngày 02 tháng 12 năm 2022 đến ngày 19 tháng 12 năm 2022, L đi giao hàng và có thu tiền mang về cho Hoàng A. Lành không biết việc Hoàng A đã chiếm đoạt tiền hàng L đã thu hộ.
- Nguyễn Thị Huyền T, Lâm Quang H, Lý Ngọc D, Nguyễn Đức E, Nguyễn Thị Hồng H1, Nguyễn Thị Tuyết M, Lê Nguyễn Minh K trình bày phù hợp nội dung vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Hoàng A, khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án. Số tiền chiếm đoạt Hoàng A sử dụng vào việc kinh doanh thêm bên ngoài, trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKSLX-HS ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng A về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Hoàng A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 02 (hai) năm – 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của người này phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Hoàng A thừa nhận từ ngày 02/12/2022 đến ngày 19/12/2022, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi gian dối dùng mã khách hàng của cửa hàng M1 để tự đặt mua hàng của công ty T2. Sau khi nhận được hàng hóa thì bị cáo đem bán cho những khách hàng khác, chiếm đoạt tài sản của công ty T2 với tổng trị giá 121.515.500 đồng.
[2.2] Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án. Như vậy, căn cứ vào các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi trên đây của bị cáo Phạm Hoàng A đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[2.3] Xét về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:
[3.1] Bị cáo Hoàng A là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo có công việc ổn định, là nhân viên của công ty T2, đáng lẽ bị cáo nên chăm chỉ lao động, trung thực trong công việc tạo ra nguồn thu nhập chính đáng nuôi sống bản thân, gia đình. Nhưng vì muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cho những nhu cầu của bản thân, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong quá trình quản lý giám sát của công ty, thực hiện các hành vi gian dối dùng mã code khách hành để chiếm đoạt tài sản của công ty T2. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát là cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội từ 02 (hai) lần trở lên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, có chú ruột là liệt sĩ và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt thuộc các tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
[3.3] Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, theo đó bị cáo có 04 (bốn) tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng.
[3.4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã bàn giao số tiền 85.000 đồng cho ông Phạm Văn Đ là đúng theo quy định pháp luật.
[6] Đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Quang G, Đào Thị D2, Trần Ngọc Huyền T1, Nguyễn Hoàng K1 không biết việc Hoàng A dùng mã code của cửa hàng M1 để đặt hàng, chiếm đoạt tiền của Công ty; Võ Phước L đi giao hàng và thu hộ tiền về giao lại Hoàng A nhưng L không biết việc Hoàng A chiếm đoạt tài sản của Công ty T2; Nguyễn Thị Huyền T, Lâm Quang H, Lý Ngọc D, Nguyễn Đức E, Nguyễn Thị Hồng H1, Nguyễn Thị Tuyết M, Lê Nguyễn Minh K không biết tài sản Hoàng A bán là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trên là có căn cứ.
[7] Về án phí: Bị cáo Hoàng A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 15/11/2023.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Hoàng A phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đ có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật thì đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Hường |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
