|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2023/HS-ST Ngày 19 tháng 12 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Ông Nguyễn Văn Kiểm;
2. Ông Trần Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: ông Vi Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn K, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 7/12; con ông: Lê Đình H và con bà: Đặng Thị T; vợ, con: chưa có; Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ từ ngày 23/10/2023 đến ngày 01/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú “có mặt tại phiên tòa”.
- Bị hại:
Ông Dương Văn V, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đặng Thị T, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang “có mặt”.
Chị Vương Thị H1, sinh ngày 12/3/2005; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
Anh Lăng Thùy D, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
Anh Lê Đình K1, sinh năm 1988; Tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
- Người làm chứng:
Anh Lưu Văn T1, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn C, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
Anh Thân Thành Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Số B, đường Y, TDP số B, phường N, thành phố B “vắng mặt”.
Anh Trần Quang H2, sinh năm 1990; địa chỉ: TDP H, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
Anh Trần Công V1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1966; địa chỉ: T Cầu Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
- Người chứng kiến:
Anh Thân Văn K2, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 23/10/2023, Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an huyện T gồm: anh Dương Văn V (tổ trưởng), các tổ viên: anh Thân Thành Đ, Lưu Văn T1, Nguyễn Văn T2, Trần Quang H2 và Trần Công V1 tiến hành tuần tra, kiểm soát, lập chốt kiểm soát giao thông tại Km 5+980, tỉnh lộ 298, đoạn đường thuộc thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 18 giờ ngày 23/10/2023, Lê Văn K, sinh năm 2004 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98H1-197.38 kèm chị Vương Thị H1, sinh ngày 12/3/2005 ở thôn H, xã T, huyện Y; Lăng Thùy D, sinh năm 2004 ở thôn L, xã T, huyện Y điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98C1-268.87 chở Đỗ Thị Thanh T3, sinh năm 2009 ở thôn H, xã T, huyện Y cùng nhau đi xuống khu vực xã M, huyện V để chị T3 đi làm. Khoảng 20 giờ 46 phút cùng ngày, thì về đến Km 5+980, tỉnh lộ 298, đoạn đường thuộc thôn C, xã N, huyện T. Khi đó D đi trước, K chở H1 đi phía sau. D thấy cách phía trước khoảng 30m có chốt cảnh sát nên vòng xe quay lại nhưng không kịp nói cho K biết. Thời điểm này, anh Lưu Văn T1 thấy K và H1 không đội mũ bảo hiểm nên đã dùng bộ đàm thông báo cho anh Dương Văn V biết. Ngay sau khi nhận thông tin từ anh T1, anh V đi bộ ra lòng đường, cách K khoảng 15mét. Anh V sử dụng còi, đèn chuyên dụng và gậy điều khiển giao thông ra hiệu lệnh yêu cầu K dừng xe. Do chưa có giấy phép lái xe mô tô, đầu không đội mũ bảo hiểm nên K sợ và tìm cách vượt qua chốt kiểm soát. Khải giảm tốc độ cho xe đi chậm lại nhưng khi xe mô tô của K cách anh V khoảng 5 đến 7 mét, K đã tăng ga xe lên với tốc độ khoảng 40 - 50km/h đồng thời đánh lái xe sang trái theo hướng đi mục đích để tránh khỏi sự kiểm soát. Anh V có lách người tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên phần bánh trước xe do K điều khiển đã lao trúng vào cẳng chân phải anh V hất anh V ngã ra đường, xe mô tô do K điều khiển bị đổ, K và H1 cũng bị ngã ra đường. Ngay sau đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K. Anh V, chị H1 được đưa đến điều trị thương tích tại Bệnh viện Đ1, huyện T, còn K cũng bị thương tích nhẹ ở bàn chân và hai gối. Huyền điều trị đến ngày 24/10/2023 thì ra viện, anh V điều trị đến ngày 31/10/2023 thì ra viện.
Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường, đã tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 98H1-197.38.
Kết quả đo nồng độ cồn hồi 22 giờ 09 phút ngày 23/10/2023 thể hiện nồng độ cồn của Lê Văn K là 0,000mg/L. Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 23/10/2023 thể hiện: Vương Thị H1 dương tính với Kmine), Lê Văn K dương tính với ma túy MDMA.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tạm giữ của Lăng Thùy D: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát 98C1-268.87 và 01 đăng ký xe mô tô số 98009127, biển kiểm soát 98C1-268.87, mang tên Lăng Thùy D.
Ngày 24/10/2023, Cơ quan điều tra tạm giữ của Vương Thị H1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng (kèm theo sim), 01 thẻ Ngân hàng M. Tạm giữ của Lăng Thùy D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen (kèm theo sim).
Tại Giấy chứng nhận thương tích ban đầu số 325885/CN-BVAQ ngày 24/10/2023 của Bệnh viện đa khoa Anh Q1 thể hiện: Anh V nhập viện hồi 21 giờ 32 phút ngày 23/10/2023. Tình trạng thương tích khi nhập viện: Vùng trán có vết thương chảy máu nhiều, kích thước 5x2 cm, bờ nham nhở, nhiều dị vật, bẩn. Vùng khuỷu tay trái có vết thương xây sát đã cầm máu. Vùng cẳng chân phải có vết thương xây sát đã cầm máu. Chẩn đoán: Chấn động não, vết thương hở vùng trán, chấn thương khuỷu tay trái, chấn thương phần mềm cẳng chân phải.
Hồ sơ bệnh án của Vương Thị H1 thể hiện: Vào viện hồi 21 giờ 30 phút ngày 23/10/2023, ra viện hồi 10 giờ 30 phút ngày 24/10/2023. Chẩn đoán thương tích lúc vào viện: Chấn động não, chấn thương phần mềm khủy tay trái, theo dõi chấn thương ngực kín, chấn thương khung chậu.
Ngày 25/10/2023, anh V có đơn đề nghị khởi tố đối với Lê Văn K về hành vi cố ý gây thương tích.
Tại Kết luận giám định số 1836/23/KLTT-TTPY ngày 25/10/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận thương tích của anh V:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích vết thương đã khâu vùng trán trái kích thước trung bình: 6%.
- - Chấn động não + Điện não đồ: Hoạt động bình thường: 2%.
- - Thương tích vết xây sát da khuỷu tay trái chưa đánh giá tỷ lệ phần trăm do đang điều trị;
- - Thương tích vết xây sát da cẳng chân trái chưa đánh giá tỷ lệ phần trăm do đang do đang điều trị;
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Văn V tại thời điểm giám định thương tích là 8% (tám phần trăm).
- Kết luận khác:
- - Vật, chiều hướng, lực tác động gây thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động không mạnh (bút lục 37, 38).
Ngày 27/10/2023, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định bổ sung thương tích của anh V.
Tại Kết luận giám định bổ sung số 1852/23/KLTTCT-TTPY ngày 30/10/2023 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích vết xây sát da đang liền sẹo khuỷu tay trái kích thước lớn: 3%;
- - Thương tích vết xây sát da đang liền sẹo cẳng chân phải kích thước lớn: 3%;
- - Thương tích vết xây sát da đang liền sẹo khuỷu tay phải không được ghi nhận trong hồ sơ y tế ban đầu nên không đánh giá tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể bổ sung của Dương Văn V tại thời điểm giám định thương tích là 6% (sáu phần trăm).
- Kết luận khác: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 8 + 6 = 14% (mười bốn phần trăm)(bút lục 45, 46).
Ngày 09/11/2023, Cơ quan điều tra trưng cầu Trung tâm P Bệnh viện đa khoa tỉnh B giám định bổ sung thương tích đối với anh V.
Tại Kết luận giám định số 1896/23/KLTT-TTPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích vết sẹo khủy tay phải kích thước trung bình: 2%;
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Văn V tại thời điểm giám định là 2% (hai phần trăm).
- Kết luận khác: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 14% + 2% = 16% (mười sáu phần trăm) (Bút lục 52, 53).
Về vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 197.38, chủ đăng ký xe là chị Trần Thị N, sinh năm 1984 ở tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện T. Chị N bán cho anh Lê Đình K1, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện T (anh K1 là chú ruột Lê Văn K). Anh K1 cho bà Đặng Thị T, sinh năm 1983, trú quán thôn C, xã T, huyện T (mẹ đẻ Lê Văn K) mượn, K tự ý lấy xe sử dụng ngày 23/10/2023. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98C1 - 268.87 (kèm theo đăng ký xe) là của Lăng Thùy D. Ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra đã chuyển 02 xe mô tô trên và đăng ký xe đến Công an huyện T để xử lý hành chính.
Đối với hành vi K điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi đã sử dụng chất ma túy, không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm. Vương Thị H1 ngồi sau xe mô tô của K không đội mũ bảo hiểm. Lăng Thùy D điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi đã sử dụng chất ma túy, không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện T để xử lý hành chính.
Trong vụ án, Vương Thị H1 là người ngồi sau xe mô tô do K điều khiển nhưng H1 không có hành động, lời nói gì tác động để K điều khiển xe mô tô lao vào anh V nên không đồng phạm. Anh K1 và bà T không giao xe mô tô cho K sử dụng, do vậy không có căn cứ xử lý đối với anh K1 và chị T.
Đối với việc H1 bị thương tích, ngày 01/11/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích nhưng H1 có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu gì đối với Lê Văn K.
K, H1 và D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 23/10/2023 tại nhà nghỉ P1 tại tổ dân phố B, thị trấn P, huyện Y. Ngày 24/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T có văn bản trao đổi thông tin đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và bàn giao 01 điện thoại (kèm theo sim) và 01 thẻ Ngân hàng của Vương Thị H1, 01 điện thoại (kèm theo sim) của Lăng Thùy D. Ngày 29/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với H1 và D về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn K đã đến thăm hỏi, xin lỗi và đề nghị được bồi thường nhưng anh V không yêu cầu K bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 82/CT-VKS ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo Lê Văn Khải, về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn K từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra còn xử lý về án phí và các vấn đề khác.
Bị cáo K nói lời nói sau cùng: Bị cáo (K) biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy họ có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng quá trình giải quyết của vụ án, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các nhân chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 46 phút ngày 23/10/2023, tại Km 5+980, tỉnh lộ 298, đoạn đường thuộc thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, sau khi phát hiện xe mô tô của bị cáo Lê Văn K chở Vương Thị H1 vi phạm Luật giao thông đường bộ (không đội mũ bảo hiểm), anh Dương Văn V là tổ trưởng tổ kiểm soát chốt giao thông của Đ2 - Trật tự Công an huyện T đang làm nhiệm vụ ra tín hiệu dừng xe vi phạm đối với K nhưng K không chấp hành hiệu lệnh. Bị cáo K đã có hành vi tăng ga điều khiển xe mô tô bỏ chạy nên xe mô tô do K điều khiển đã lao vào người anh V làm anh V bị ngã ra đường. Hậu quả làm anh V bị thương tích 16% (mười sáu phần trăm). Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn K đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự: Trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử bị cáo K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên toà bị hại anh V xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo thực hiện đối với người đang thi hành công vụ, nhiệm vụ, khi bị hại thực hiện nhiệm vụ yêu cầu bị cáo dừng xe theo quy định nhưng bị cáo không chấp hành lại phóng xe bỏ chạy gây thương tích cho bị hại, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến đến tính mạng, sức khỏe được pháp luật bảo vệ. HĐXX xét thấy: Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ để răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác:
- Về vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98H1 - 197.38, chủ đăng ký xe là chị Trần Thị N, sinh năm 1984 ở tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện T. Chị N bán cho anh Lê Đình K1, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện T (anh K1 là chú ruột Lê Văn K). Anh K1 cho bà Đặng Thị T, sinh năm 1983, trú quán thôn C, xã T, huyện T (mẹ đẻ Lê Văn K) mượn, K tự ý lấy xe sử dụng ngày 23/10/2023. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98C1 - 268.87 (kèm theo đăng ký xe) là của Lăng Thùy D. Ngày 14/11/2023, Cơ quan điều tra đã chuyển 02 xe mô tô trên và đăng ký xe đến Công an huyện T để xử lý hành chính, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Đối với hành vi K điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi đã sử dụng chất ma túy, không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm. Vương Thị H1 ngồi sau xe mô tô của K không đội mũ bảo hiểm. Lăng Thùy D điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi đã sử dụng chất ma túy, không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện T để xử lý hành chính, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Trong vụ án, Vương Thị H1 là người ngồi sau xe mô tô do K điều khiển nhưng H1 không có hành động, lời nói gì tác động để K điều khiển xe mô tô lao vào anh V nên không đồng phạm. Anh K1 và bà T không giao xe mô tô cho K sử dụng, do vậy không có căn cứ xử lý đối với anh K1 và chị T, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Đối với việc H1 bị thương tích, ngày 01/11/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích nhưng H1 có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu gì đối với Lê Văn K, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- K, H1 và D có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 23/10/2023 tại nhà nghỉ P1 tại tổ dân phố B, thị trấn P, huyện Y. Ngày 24/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T có văn bản trao đổi thông tin đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y và bàn giao 01 điện thoại (kèm theo sim) và 01 thẻ Ngân hàng của Vương Thị H1, 01 điện thoại (kèm theo sim) của Lăng Thùy D. Ngày 29/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với H1 và D về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo và gia đình đã có thiện chí bồi thường cho bị hại, nhưng phía bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 23/10/2023 đến ngày 01/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc bị cáo K phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án (hoặc niêm yết) bản án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Thị Hương Giang |
Bản án số 82/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 82/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khải
