|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo; ông Lê Châu Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/HSST ngày 02 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
VÕ VĂN ĐẦY, sinh năm 1996; nơi sinh thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ B, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; cha Võ Văn Đ, sinh năm 1971 và mẹ Lê Thị Bích T, sinh năm 1972; vợ Lâm Thị Hồng T1, sinh năm 1994; con có 01 người, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại.
Bị hại: Ông Lý Văn T2, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ H, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Lý Hồng N, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ H, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
Lý Thị Thu Đ1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ 14, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Bị cáo có mặt; bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 16/11/2023, do có mối quan hệ quen biết từ trước, ông Lý Văn T2 mượn xe mô tô biển số 67B1-120.86 của Lý Hồng N (anh họ T2) chở Đ2 đi uống cà phê tại thành phố C. Do cần tiền tiêu xài nên Đ2 mượn xe mô tô của T2 để đi cầm cố điện thoại, Đ2 điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại di động “P" thuộc khóm G, phường C, thành phố C cầm điện thoại cho Lưu Tấn P được 400.000 đồng, Đ2 thấy số tiền ít không đủ tiêu xài nên liền nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của T2 đem bán lấy tiền tiêu xài. Đầy liền điều khiển xe đến khu vực bến xe A tại thành phố Hồ Chí Minh bán cho người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 7.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 17/11/2023, ông Lý Hồng N nhận được điện thoại của người đàn ông tên H (không rõ nhân thân lai lịch) nói cho N biết đã mua xe của N từ một người lạ mặt và thỏa thuận số tiền N chuộc lại xe là 8.400.000 đồng. Ngày 24/11/2023, ông Lý Hồng N, Lý Văn T2 đến nhà xe Phương Trang tại Bến xe C, nhận lại xe mô tô biển số 67B1-120.86. Sau đó, ông Lý Văn T2 đến Công an phường V trình báo sự việc trên và giao nộp xe mô tô biển số 67B1- 120.86.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 421/KL-ĐG ngày 26/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, loại AIR.BLADE, màu trắng đỏ đen, biển số 67B1 - 120.86, trị giá 9.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 69/CT-VKSCĐ-HS ngày 02/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Võ Văn Đ3 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng thể hiện, bị cáo đã bồi thường 9.000.000 đồng cho ông Lý Văn T2.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Võ Văn Đ3 từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung, không xem xét giải quyết về phần trách nhiệm dân sự. Về xử lý vật chứng, xe môtô nhãn hiệu Honda,
loại AIRBLADE, màu trắng đỏ đen, biển số 67B1 - 120.86, đã trao trả cho Lý Văn T2, Lý Hồng N đã nhận nên không đề cập.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, quá trình điều tra đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, đã nhận 9.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn Đ3 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Đ3 đã lợi dụng sự quen biết với Lý Văn T2 nên đã hỏi T2 mượn xe mô tô (do T2 mượn anh Lý Hồng N) để đi cầm cố điện thoại, tuy nhiên, sau khi cầm cô xong điện thoại được 400.000 đồng, thấy số tiền ít quá nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt, đem xe mô tô bán cho một người khác giá 7.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đ3 về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, phù hợp quy định của pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự tin tưởng, tín nhiệm của ông Lý Văn T2 mà chiếm đoạt tài sản xe mô tô của bị hại giao cho mượn. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hanh vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục bồi thường thiệt hại,bị hại T2 đã nhận lại tài sản trao trả cho ông Lý Hồng N, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ3. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, xét bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng
Đối với 01 xe mô tô, quá trình điều tra đã trả lại bị hại Lý Văn T2 để trao trả lại cho ông Lý Hồng N, nay bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại khoản tiền bồi thường thiệt hại, đồng thời người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Văn Đ3 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Văn Đ3 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo Võ Văn Đ3 được tính ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Võ Văn Đ3 phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
