Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 82/2024/HSST

Ngày: 19/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Trí
  2. Bà Đặng Thị Ngọc Diệu

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành D. Tên gọi khác: Nhí đầu bò, N hai bò, Giới tính: Nam, Sinh ngày 20/01/1991 tại tỉnh Bình Thuận, Nơi cư trú: khu phố H, phường M, TP ., tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 7/12, Nghề nghiệp: Không, C: Đỗ N1, sinh năm 1969, Mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1967, Bị cáo là con duy nhất trong gia đình vợ, con: chưa có.

Tiền án:

  • - Ngày 15/3/2021, TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 20/2021/HSST.
  • - Ngày 23/7/2021, TAND thảnh phố Phan Thiết xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 109/2021/HSST, tổng hợp 12 tháng tù tại Bản án số 20/2021/HSST buộc phải chấp hành 27 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/01/2023, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

  • - Ngày 31/12/2003, Chủ tịch UBND thành phố P ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 01/01/2006.
  • - Ngày 16/6/2006, Chủ tịch UBND phường M ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương với thời hạn 06 tháng về hành vi “Uống rượu say đánh nhau gây thương tích”.
  • - Ngày 30/11/2007, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 189/2007/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/01/2011.

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ ngày 23/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Chị Bùi Thị Kim C - sinh năm 1985 (Vắng mặt)
  2. Trú tại: khu phố A, phường Thanh Hải, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

  3. Anh Mai Xuân T - sinh năm 1991 (Vắng mặt)
  4. Trú tại: khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành D có 01 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích, đã thực hiện 02 vụ trộm cắp trên địa bàn thành phố P như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 02 giờ ngày 08/12/2023, Nguyễn Thành D đi bộ quanh khu vực phường P, thành phố P tìm tài sản để trộm. Khi đi đến trước Khách sạn M1 thuộc khu phố A, phường P, thành phố P của Mai Xuân T làm chủ, phát hiện T đang nằm ngủ, xung quanh không có người trông coi nên D lén lút đi vào khách sạn đến bàn lễ tân thấy có 01 chiếc ví da màu đen, bên trong có 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Mai Xuân T, D lấy chiếc ví da trên, rồi tiếp tục mở ngăn kéo của bàn lễ tân thấy số tiền 4.000.000 đồng, D lấy số tiền trên rồi đi ra khỏi khách sạn. Trên đường đi về, D mở chiếc ví da lấy giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Mai Xuân T, còn lại chiếc ví da cùng một số giấy tờ tùy thân khác D ném ở vỉa hè trên đường. Số tiền trộm được, D tiêu xài hết.

Bị mất trộm tài sản, Mai Xuân T đã đến Công an phường P trình báo vụ việc.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ từ Mai Xuân T:

  • 01 USB màu bạc bên trong có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh vụ trộm cắp tài sản tại khách sạn M1 ngày 08/12/2023.

Chiếc ví da màu đen, bên ngoài có in nổi hình cá sấu và 01 số giấy tờ tùy thân của Mai Xuân T đã bị D vứt mất, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Tại Công văn số 22/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố P kết luận: 01 bóp da màu đen, bên ngoài có in nổi hình da cá sấu, đã qua sử dụng không xác định được giá trị tài sản.

Xử lý vật chứng và dân sự:

01 USB màu bạc bên trong có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh vụ trộm cắp tại khách sạn M1 vào ngày 08/12/2023, được lưu kèm hồ sơ phục vụ xét xử.

Mai Xuân T yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000 đồng. Nguyễn Thành D chưa bồi thường.

Vụ thứ hai:

Khoảng 01 giờ ngày 19/12/2023, Nguyễn Thành D đi bộ đến nhà nghỉ L thuộc khu phố A, phường T, thành phố P của Tôn Thất D1 làm chủ để thuê phòng nghỉ. D1 đến gặp Đào Duy A đang làm lễ tân tại nhà nghỉ L hỏi thuê phòng, A yêu cầu D1 đưa giấy tờ tùy thân để đăng ký lưu trú thì D1 đưa giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Mai Xuân T cho A, A giữ giấy phép lái xe, rồi đưa D1 vào phòng số 04 của nhà nghỉ L. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, khi D1 đi ngang qua phòng số 03 do Bùi Thị Kim C thuê ở cùng với Phạm Minh T1 (là chồng của C) thì D1 phát hiện phòng không khóa cửa nên D1 mở cửa đi vào phòng thì thấy T1 đang nằm ngủ, trên bàn gần ổ cắm điện có 01 chiếc điện thoại hiệu S đang cắm sạc, chiếc bàn gần đó có 02 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung và OPPO cùng 02 chiếc nhẫn, D1 lấy toàn bộ số tài sản trên bỏ vào túi quần rồi tẩu thoát. Trên đường đi đến khu vực gần cầu H, D1 kiểm tra 02 chiếc nhẫn vừa trộm được nghi ngờ là giả nên đã ném bỏ ở gần đó thì D1 gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân) chạy xe ôm, D1 hỏi có mua điện thoại không thì người đàn ông đồng ý mua lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu OPPO với giá 2.000.000 đồng. Đến ngày 20/12/2023, D1 gặp người bạn tên K (chưa rõ nhân thân) đổi 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung còn lại lấy ma túy đá để sử dụng. Đến ngày 22/12/2023, D1 đến nhà Nguyễn Tấn H chơi, tại đây D1 đã cho H 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37 để H sử dụng.

Bị mất trộm tài sản, C đã đến Công an phường T trình báo. Công an phường T triệu tập Nguyễn Thành D về trụ sở làm việc, tại đây D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ từ Tôn Thất D1:

  • 01 giấy phép lái xe thẻ nhựa PET hạng B2 mang tên Mai Xuân T, sinh ngày 07/8/1991, số [...];
  • 01 thẻ nhớ hiệu ScanDisk Ultra 32GB bên trong có chứa 01 đoạn video ghi lại hình ảnh đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp tại nhà nghỉ L vào ngày 19/12/2023;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T5G 256GB màu vàng đồng nhạt, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20s màu đen, 01 điện thoại di động hiệu S Note 9 64GB màu đen và 02 nhẫn vàng 18K có đính đá, trọng lượng 4,1 chỉ, không thu hồi được.

- Thu giữ từ Nguyễn Tấn H:

  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO A37;

Tại kết luận định giá tài sản số 31 ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận:

  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T5G 256GB màu vàng đồng nhạt, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường, trị giá 4.500.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20s màu đen, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường, trị giá 800.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động hiệu S Note 9 64GB màu đen, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường trị giá 1.700.000 đồng;
  • - 02 nhẫn vàng 18K có đính đá, trọng lượng 4,1 chỉ, trị giá 15.088.000 đồng;

Tổng giá trị tài sản là 22.088.000 đồng.

Xử lý vật chứng và dân sự:

01 thẻ nhớ hiệu ScanDisk Ultra 32GB bên trong có chứa 01 đoạn video ghi lại hình ảnh đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tại nhà nghỉ L vào ngày 19/12/2023, được lưu kèm hồ sơ phục vụ xét xử.

Đối với 01 giấy phép lái xe thẻ nhựa PET hạng B2 mang tên Mai Xuân T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Mai Xuân T.

Điện thoại di động hiệu OPPO A37, là tài sản của Nguyễn Thành D cho Nguyễn Tấn H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho H.

Bùi Thị Kim C yêu cầu Nguyễn Thành D bồi thường số tiền 22.088.000 đồng, hiện D chưa bồi thường.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành D đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố tại Cáo trạng số 45/CT-VKSPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi theo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan thiết đã truy tố và thừa nhận vào ngày 08/12/2023, tại khách sạn M1, D đã lén lút lấy trộm của Mai Xuân T số tiền 4.000.000 đồng và ngày 19/12/2023, tại phòng số 04 nhà nghỉ Lan Duy D2 đã lén lút lấy trộm của Bùi Thị Kim C 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T5G 256GB màu vàng đồng nhạt, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20s màu đen, 01 điện thoại di động hiệu S Note 9 64GB màu đen và 02 nhẫn vàng 18K có đính đá, trọng lượng 4,1 chỉ với tổng giá trị là 22.088.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo, bị hại và người làm chứng đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Nguyễn Thành D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nguyễn Thành D 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”; D có 01 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 01 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D mức án từ 18 đến 24 tháng tù.

Xử lý vật chứng và dân sự:

01 thẻ nhớ hiệu ScanDisk Ultra 32GB bên trong có chứa 01 đoạn video ghi lại hình ảnh đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tại nhà nghỉ L vào ngày 19/12/2023, được lưu kèm hồ sơ phục vụ xét xử.

Đối với 01 giấy phép lái xe thẻ nhựa PET hạng B2 mang tên Mai Xuân T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Mai Xuân T.

Điện thoại di động hiệu OPPO A37, là tài sản của Nguyễn Thành D cho Nguyễn Tấn H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho H.

Buộc Nguyễn Thành D bồi thường cho chị Bùi Thị Kim C số tiền 22.088.000 đồng.

Buộc Nguyễn Thành D bồi thường cho anh Mai Xuân T số tiền 4.000.000 đồng.

Nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là không oan sai, bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

Ngày 08/12/2023 và ngày 19/12/2023, Nguyễn Thành D đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P, cụ thể:

Ngày 08/12/2023, tại khách sạn M1 số 151 đường T thuộc khu phố A, phường P, thành phố P. Nguyễn Thành D đã lén lút lấy trộm của Mai Xuân T số tiền 4.000.000 đồng.

Ngày 19/12/2023, tại phòng số 04 nhà nghỉ L số 14 đường N thuộc khu phố A, phường T, thành phố P. Nguyễn Thành D đã lén lút lấy trộm của Bùi Thị Kim C 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8T5G 256GB màu vàng đồng nhạt, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20s màu đen, 01 điện thoại di động hiệu S Note 9 64GB màu đen và 02 nhẫn vàng 18K có đính đá, trọng lượng 4,1 chỉ với tổng giá trị là 22.088.000 đồng.

Nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, do vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”; D có 01 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, về tình tiết giảm nhẹ thì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về mức hình phạt: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 01 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D3 mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của bị cáo xét thấy cần phải xử lý và áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật và đấu tranh chống tội phạm nên mức hình phạt và điều luật áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và bồi thường dân sự: 01 thẻ nhớ hiệu ScanDisk Ultra 32GB bên trong có chứa 01 đoạn video ghi lại hình ảnh đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tại nhà nghỉ L vào ngày 19/12/2023, được lưu kèm hồ sơ phục vụ xét xử.

Đối với 01 giấy phép lái xe thẻ nhựa PET hạng B2 mang tên Mai Xuân T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Mai Xuân T.

Điện thoại di động hiệu OPPO A37, là tài sản của Nguyễn Thành D cho Nguyễn Tấn H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho H.

Buộc Nguyễn Thành D bồi thường cho chị Bùi Thị Kim C số tiền 22.088.000 đồng.

Buộc Nguyễn Thành D bồi thường cho anh Mai Xuân T số tiền 4.000.000 đồng.

[7] Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thành D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584 Bộ luật Dân sự:

Buộc Nguyễn Thành D bồi thường cho chị Bùi Thị Kim C số tiền 22.088.000 đồng.

Buộc Nguyễn Thành D bồi thường cho anh Mai Xuân T số tiền 4.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự và 1.304.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (19/4/2024) bị hại, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - VKSND tp. Phan Thiết
  • - Công an tp. Phan Thiết
  • - Người tham gia tố tụng
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú.
  • - Chi cục THADS tp.Phan Thiết
  • - Cổng TTĐT TANDTC
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lưu Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HSST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 82/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger