Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HSST

Ngày: 18/12/2023

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh và ông Nguyễn Bá Thảo, nghề nghiệp: Cán bộ phòng giáo dục đào tạo huyện Nghĩa Đàn.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị An - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông Hoàng Bá Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023 xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76 ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

Lữ Đức V – tên gọi khác: không; sinh ngày 25/5/2001; Giới tính: nam; Nơi cư trú: Xóm M - xã N - N - tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông Lữ Văn Ư – 1973 và bà Hà Thị Đ – sinh năm 1971; vợ Nguyễn Thị N sinh năm 2005, con: có 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2023 đến ngày 30/8/2023 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Lữ Quốc V1 – tên gọi khác: không; sinh ngày 30 tháng 3 năm 2007; giới tính: nam; Nơi cư trú: Xóm Đ - xã N - huyện N - Nghệ An; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; Con ông: Lữ Văn Hiếu sinh năm 1986 và bà Hà Thị H sinh năm 1988, vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có; bị cáo được tại ngoại. Có mặt.

Người bị hại: anh Ngô Xuân H1 – sinh năm 1992 (Có đơn xin vắng mặt)

Trú tại: Khối T - thị trấn N - huyện N - Nghệ An.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lữ Quốc V1 có ông Lữ Văn H2, sinh năm 1986 (bố đẻ bị cáo). Trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện N, Nghệ An (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lữ Quốc V1 có bà Tạ Thị A, trợ giúp viện thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Xin vắng mặt và có bài phát biểu bào chữa cho bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, bị cáo Lữ Văn V2Lữ Quốc V1 bị truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào tối ngày 27 tháng 7 năm 2023, Lữ Đức V, Lữ Quốc V1Vi Văn T, sinh năm 2010, Đặng Thị Đình Đ1, sinh ngày 15/9/2007 cùng rủ nhau đi ăn ốc tại Quán Ố, thuộc khối T, thị trấn N, huyện N. Sau khi ăn xong, đến rạng sáng ngày 28/7/2023, T điều khiển hiệu Espero, BKS 37G1 – 512.14 chở Đ1, V điều khiển xe máy Wave Alpha BKS 37H1 – 509.91 chở V1 đi về. Khi cả bốn người đang đi về thì thấy một chiếc xe máy Honda, nhãn hiệu Wave alpha, BKS 37B2 – 544.91 dựng ở ngoài sân của một ngôi nhà sát đường thuộc khối T, thị trấn N không có người trông coi nên T rủ cả nhóm dừng lại để lấy trộm xe thì tất cả đồng ý. V1 xuống xe đi bộ vào dắt chiếc xe máy BKS 37B2 – 544.91 ra, sau đó T ngồi lên chiếc xe máy vừa lấy được. Lữ Đức V điều khiển chiếc xe máy BKS 37H1 – 509.91 đẩy xe máy 37B2 – 544.91 đi một đoạn rồi thì V chạy xe đi trước, V1 điều khiển chiếc xe máy Espero BKS 37G1 – 512.14 chở Đ1 đẩy tiếp. V1, T, Đ1 đẩy chiếc xe trộm cắp đến khu vực ngã 3 gần chợ thị trấn N thì dừng lại. V1 bẻ biển số xe vứt đi rồi tiếp tục đẩy chiếc xe máy đi tiếp thì gặp V rồi cả nhóm đẩy chiếc xe này về trước nhà anh Lữ Văn T1, sinh năm 1994 ở xóm Đ, xã N. Tại đây V vào nhà anh T1 mượn chiếc tua vít đưa ra cho V1 phá ổ khóa, đấu dây điện để nổ máy, Đ1 đứng cầm đèn pin chiếu sáng còn T mở yếm xe. Sau khi nổ được xe, V1 điều khiển chiếc xe vừa trộm được đi về nhà V1 cùng với Đ1 và và T, còn V thì đi về nhà của V. Ngày 07/8/2023, anh Ngô Xuân H1 đến cơ quan điều tra Công an huyện N trình báo việc mất chiếc xe máy BKS 37B2 – 544.91. Ngày 11/8/2023, Lữ Quốc V1 đầu thú, ngày 27/8/2023, Lữ Đức V đầu thú. Kết luận của cơ quan chức năng định giá chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha màu trắng đen bạc, có số khung DY – 353386, số máy HC12E 5353404, mang biển kiểm soát 37B2 – 544.91 xe đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm ngày 28/7/2023 là 8.000.000đ (tám triệu đồng).

Tại Bản cáo trạng số 71/VKS – HS ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Lữ Đức V, Lữ Quốc V1 về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 – Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau: xử phạt bị cáo Lữ Đức V từ 06 đến 09 tháng tù; xử phạt Lữ Quốc V1 từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo do có hoàn cảnh khó khăn.

Về trách nhiệm dân sự: Vắng mặt tại phiên tòa hôm nay nhưng anh Ngô Xuân H1 có trình bày: tài sản của anh bị các bị cáo chiếm đoạt vào rạng sáng ngày 28 tháng 7 năm 2023 là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha màu trắng đen bạc, có số khung DY – 353386, số máy HC12E 5353404, mang biển kiểm soát 37B2 – 544.91 xe đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 8.000.000đ đã được Cơ quan CSĐT công an huyện N thu hồi và trả lại, nay anh H1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì nữa.

Vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa cho bị cáo Lữ Quốc V1 có gửi bài bào chữa cho bị cáo Lữ Quốc V1: trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo luôn tỏ thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã cùng bị cáo V bồi thường số tiền 1.000.000đ cho người bị hại. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51 BLHS. Mặt khác bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lữ Quốc V1 từ 03 đến 06 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách hợp lý.

Đối với người đại diện hợp pháp cho bị cáo trình bày: Bị cáo Lữ Quốc V1 tuy còn ít tuổi nhưng không nghe lời bố mẹ, đã bỏ học và không chịu làm ăn, hay bỏ nhà đi lang thang, gia đình không quản lý giáo dục được, cần nhờ đến pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay anh H2 đề nghị để bị cáo V1 đi cải tạo một thời gian để làm người có ích sau này.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, lời bào chữa cho bị cáo của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người bị hại không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời nhận tội của các bị cáo thấy phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và loại tài sản mà bị cáo chiếm đoạt. Lời khai của các bị cáo còn phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ đó xác định được vào rạng sáng ngày 28/7/2023 các bị cáo Lữ Quốc V1, Lữ Đức V cùng với Đặng Thị Đình Đ1, Vi Văn T đã cùng nhau trộm cắp chiếc xe máy BKS 37B2 – 544.91 của anh Ngô Xuân H1 trú tại khối T, thị trấn N đang dựng tại sân nhà. Giá trị chiếc xe máy được định giá 8.000.000đ (tám triệu đồng). Đối với Đặng Thị Đình Đ1Vi Văn T khi vi phạm chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Lữ Quốc V1, Lữ Đức V phạm tội “Trộm cắp tài sản” vi phạm khoản 1 điều 173 BLHS như cáo trạng của VKSND huyện Nghĩa Đàn quy kết là có căn cứ pháp luật.

Các bị cáo ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng do thiếu ý thức rèn luyện và động cơ vụ lợi muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã đẩy các bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của anh Ngô Xuân H1 gây mất trật tự trị an, gây tâm lý lo lắng cho người dân nói chung.

Đối với người bị hại anh H1 tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại đầy đủ, anh H1 không yêu cầu gì nữa. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay anh H1 đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Xét thân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:

Xét tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ: Thấy trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại tiền sữa chữa xe bị hỏng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, i khoản 1, 2 Điều 51 – Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo Lữ Quốc V1 tuy tuổi đời còn nhỏ nhưng hay bỏ nhà đi lang thang, gia đình không quản lý giáo dục được, đại diện gia đình đề nghị cho bị cáo đi cải tạo một thời gian đề làm người có ích cho xã hội, Hội đồng xét xử xét theo nguyện vọng của đại diện gia đình cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian rèn luyện, tu dưỡng. Đối với bị cáo Lữ Đức V phạm tội với vai trò đồng phạm, vợ bị cáo mới sinh con, gia đình thuộc hộ cận nghèo, lao động chính trong gia đình nên cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo phụ giúp gia đình, vợ mới sinh con.

Về vật chứng vụ án: không có.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt bổ sung bị cáo.

Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Lữ Đức V do là hộ cận nghèo, bị cáo Lữ Quốc V1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Lữ Quốc V1, Lữ Đức V phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, s, i khoản 1, 2 điều 51; Điều 38, điều 98, điều 101 - BLHS, xử phạt bị cáo Lữ Quốc V1 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1 điều 51, điều 65 BLHS đối với Lữ Đức V, xử phạt Lữ Đức V 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo. Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N giám sát Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 điều 65 – BLHS năm 2015.

Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lữ Quốc V1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST. Miễn án phí cho Lữ Đức V.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lữ Quốc V1, vắng mặt người bị hại, người bào chữa cho bị cáo Lữ Quốc V1. Báo cho các bị cáo, người đại diện cho bị cáo Lữ Quốc V1 biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người bị hại, người bào chữa cho bị cáo Lữ Quốc V1 biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Quang Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2023/HSST ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 82/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger