Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17- 8 -2024

“V/v xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên
  • Bà Trần Thu Trang

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia

Ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 257/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh ngày 23/3/1968 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

    Địa chỉ: Tổ A, khu phố C, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  2. Bị đơn: Ông Lê Văn Đ; sinh năm: 1972 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

    Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại Tòa án của nguyên đơn là Huỳnh Thị H:

Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1989, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống có hai người con chung là Lê Thị Diễm M, sinh ngày 14/8/1992 và Lê Vũ T, sinh ngày 25/7/1994. Trong thời gian chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay bà H nhận thấy không thể tiếp tục chung sống hôn nhân với ông Đ được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Về con chung: Bà H và ông Đ có hai người con chung Lê Thị Diễm M, sinh ngày 14/8/1992 và Lê Vũ T, sinh ngày 25/7/1994 đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Bà H xác định bà và ông Đ không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H xác định bà và ông Đ không có nợ ai và cũng không có ai nợ ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo lời trình bày tại Tòa án của bị đơn- ông Lê Văn Đ: Ông Đ thống nhất lời trình bày của bà H, ông và H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1989, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống có hai người con chung là Lê Thị Diễm M, sinh ngày 14/8/1992 và Lê Vũ T, sinh ngày 25/7/1994. Trong thời gian chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay bà H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông Đ đồng ý ly hôn. Về con chung là Lê Thị Diễm M, sinh ngày 14/8/1992 và Lê Vũ T, sinh ngày 25/7/1994 đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ xác định ông và bà H không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn - ông bà Huỳnh Thị H và bị đơn - ông Lê Văn Đ: Có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Lê Văn Đ. Bị đơn ông Lê Văn Đ cư trú tại ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là vụ kiện về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Nguyên đơn- bà Huỳnh Thị H và bị đơn ông Lê Văn Đ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị H: Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Văn Đ tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Bà H khởi kiện xin ly hôn ông Đ với lý do: Giữa bà H và ông Đ có hôn nhân không còn hòa hợp, vợ chồng không còn yêu thương, chăm lo cho nhau. Bà H có đơn xin ly hôn, ông Đ cũng đồng ý ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hòa giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nhưng không thành. Do đó, căn cứ vào Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kết hôn để giải quyết theo quy định pháp luật.

[3] Về con chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Văn Đ xác định vợ chồng có hai người con chung là Lê Thị Diễm M, sinh ngày 14/8/1992 và Lê Vũ T, sinh ngày 25/7/1994, các con đều đã thành niên nên không xem xét quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Văn Đ xác định không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà H phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn Điều 14; Điều 51, khoản 2 Điều 53; Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị H và ông Lê Văn Đ.
  2. Về con chung: Lê Thị Diễm M, sinh ngày 14/8/1992 và Lê Vũ T, sinh ngày 25/7/1994, đã thành niên nên không xem xét.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị H và ông Lê Văn Đ xác định không có nên không xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003312 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Bà H đã nộp đủ.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện An Biên;
  • - THADS huyện An Biên;
  • - UBND xã nơi cư trú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (Dương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trần Mộng Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 17/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger