TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17/6/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt.
Ông Ninh Văn Trung.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.
Ngày 17/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 141/2024/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 03 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Dương Thị X, sinh năm 1995 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1995 (Có đề nghị vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Dương Thị X trình bày: Chị và anh Hoàng Văn T kết hôn với nhau vào ngày 30/5/2023, trước khi cưới có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Cưới xong chị về làm dâu ngay nhà anh T, vợ chồng anh chị chung sống tại thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên sống được thời gian ngắn, thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, không cùng nhau phát triển kinh tế chung. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn T có 01 con chung là Hoàng Dương An K, sinh ngày 07/4/2023. Nay ly hôn chị có nguyện vọng để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Hoàng Văn T tự thoả thuận, chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: Chị và anh Hoàng Văn T không có nợ chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2024, bị đơn anh Hoàng Văn T trình bày: Anh và chị Dương Thị X trước khi cưới có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội, hai bên cũng được cưới hỏi theo phong tục địa phương. Cưới xong chị X về làm dâu ngay nhà anh, vợ chồng anh chị chung sống tại thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Đến tháng 6/2023, thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, hai vợ chồng xảy ra to tiếng, chị X có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Tuy nhiên do hiện tại con còn nhỏ nên anh mong muốn chị X về đoàn tụ để nuôi dậy con cái nếu sau này con lớn sẽ giải quyết ly hôn, còn hiện tại anh không đồng ý ly hôn với chị Dương Thị X.
Về con chung: Anh và chị Dương Thị X có 01 con chung là Hoàng Dương An K, sinh ngày 07/4/2023. Nay nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị Dương Thị Xuân t thoả thuận, anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do con còn nhỏ và một số lý do khách quan khác nên anh không thể đến toà làm việc cũng như tham gia các phiên hoà giải được nên anh xin vắng mặt tại tại các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như các phiên toà xét xử anh, anh xin vắng mặt tại tất cả các phiên toà.
Tại biên bản xác minh ngày 19/4/2024, ông Nguyễn Văn Đ - Cán bộ tư pháp xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp: Theo địa phương nắm được hai vợ chồng chị X, anh T đã ly thân từ cuối năm 2023 đến nay không còn chung sống với nhau nữa, còn cụ thể mẫu thế nào địa phương không rõ vì không báo chính quyền địa phương.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Dương Thị X, bị đơn anh Hoàng Văn T vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị X: Cho chị Dương Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là Hoàng Dương An K, sinh ngày 07/4/2023 cho anh Hoàng Văn T nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét vì đương sự không yêu cầu.
Về án phí: Chị Dương Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Dương Thị X đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0006059 ngày 19 tháng 3 năm 2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Dương Thị X khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với anh Hoàng Văn T, anh Hoàng Văn T hiện đang có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thị X vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hoàng Văn T vắng mặt đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Dương Thị X và anh Hoàng Văn T theo quy định tại Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị X và anh Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/5/2023 phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo trình bày của chị Dương Thị X vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, không cùng nhau phát triển kinh tế chung. Anh Hoàng Văn T cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, chị Dương Thị X có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay, như vậy việc chị X, anh T mâu thuẫn và sống ly thân phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian sống chung vợ chồng chị X, anh T không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân, việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần cho chị Dương Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
[4] Về con chung: Chị Dương Thị X và anh Hoàng Văn T có 01 con chung là Hoàng Dương An K, sinh ngày 07/4/2023. Hiện nay, chị Dương Thị X và anh Hoàng Văn T đều thoả thuận, thống nhất anh Hoàng Văn T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Hoàng D An Khang mặc dù chưa đủ 36 tháng tuổi nhưng chị X đồng ý để anh T nuôi con, hiện con đang ở với anh Hoàng Văn T cháu vẫn khoẻ mạnh phát triển bình thường, anh T, chị X đều thống nhất việc nuôi con chung, nên cần giao cho anh Hoàng Văn T nuôi dưỡng con chung là Hoàng Dương An K, sinh ngày 07/4/2023 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại 81 Luật hôn nhân và gia đình.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ chung: Do chị Dương Thị X và anh Hoàng Văn T không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chị Dương Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị X: Cho chị Dương Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
- Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là Hoàng Dương An K, sinh ngày 07/4/2023 cho anh Hoàng Văn T trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, chị Dương Thị X có quyền thăm nom con không ai được cản trở chị Dương Thị X thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Dương Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Dương Thị X đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0006059 ngày 19 tháng 3 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thu Hà |
Bản án số 82/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 82/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị X và Hoàng Văn T Ly hôn, con chung
