|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 17-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Ngọc Anh
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 353/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Bích T, sinh ngày 17 tháng 6 năm 1964 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 (đã chết) và bà Phạm Thị L; có chồng là Nguyễn Việt C (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2024; có mặt.
Bị hại:
Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 2000; nơi cư trú: Số D L, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 07/01/2024, Lê Bích T đi bộ tại Chợ H1 để mua đồ dùng sinh hoạt, khi đi đến khu vực kios số 10 Chợ Hàng thì phát hiện tại túi áo khoác ngoài bên phải của chị Nguyễn Thị Hồng N có 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu đen. T nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. T áp sát người chị N, dùng tay phải lấy chiếc điện thoại trên cho vào trong áo lót ngực bên trái rồi bỏ đi. Khi T đi được 2m thì bị chị N và bạn là anh Trần Thanh H, sinh năm 2000, nơi ở: Số B L, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng giữ lại hỏi. T biết hành vi trộm cắp tài sản của mình đã bị phát hiện nên bảo chị N, anh H cùng đi thêm khoảng 10 mét về phía nhà tròn trung tâm chợ rồi lấy chiếc điện thoại vừa trộm cắp từ áo lót ngực bên trái ra trả cho chị N. Sau đó chị N và anh H đã trình báo và bàn giao T cùng vật chứng cho Công an phường D.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 07/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng có giá trị là 2.100.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKSLC ngày 02/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Lê Bích T về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Lê Bích T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, i, h khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Bích T mức án từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Chị Nguyễn Thị Hồng N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 07/01/2024 tại khu vực Chợ H1, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lê Bích T đã có hành vi lợi dụng sơ hở đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng có giá trị là 2.100.000đ. của chị Nguyễn Thị Hồng N. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi ngay trả cho bị hại, chưa gây thiệt hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s, i và h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Về quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
[6] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội, mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về trách nhiệm dân sự:
[7] Bị hại là chị Nguyễn Thị Hồng N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xét.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về án phí:
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[10] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bích T 07 (bẩy) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường D, quận L, thành phố Hải Phòng để giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án trách nhiệm hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Lê Bích T.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Bích T trộm cắp tài sản
